Thứ Ba, 6 tháng 10, 2020

Bà Trần Thị Tuyết, người đầu tiên (hàng một) nhận kỷ niệm vinh danh các HTX

  Theo chân đồng bào Mông, Tày Bắc Hà đi hái Chè Thái Nguyên già

Thứ Ba, 07/01/2020 19:23 | 

Kinh tế

Ít người biết, Chè Thái Nguyên Shan tuyết cổ Bắc Hà, hương vị chát đẫm của rừng già nay đã được nhiều nước châu Âu ưa chuộng và được xuất khẩu với giá của loại Chè Thái Nguyên đặc biệt lên đến 250 USD mỗi kg.

·         Chè Thái Nguyên Shan tuyết Giàng Pằng được công nhận quần thể Cây di sản Việt Nam

Xã Bản Liền hiện có hơn 500 ha Chè Thái Nguyên Shan, trong đó có trên 400 ha được công nhận Chè Thái Nguyên hữu cơ. Nhờ có thị trường xuất khẩu ổn định, mỗi năm Hợp tác xã Chè Thái Nguyên Bản Liền thu mua khoảng 400 tấn Chè Thái Nguyên búp tươi.

Vẫn là những lá Chè Thái Nguyên được bàn tay người dân tộc Mông, Tày, Dao ở Bản Liền hái về, nhưng Chè Thái Nguyên Bản Liền với những cái tên nay đã trở nên nổi tiếng như Tả Củ Tỷ, Tả Van Chư, Hoàng Thu Phố, Lầu Thí Ngài đang dần chinh phục thị trường châu Âu khó tính bậc nhất thế giới.

Người Tày, người Mông thu hái Chè Thái Nguyên trên những cây Chè Thái Nguyên Shan cổ thụ ở Bản Liền.

Nói về sản phẩm Chè Thái Nguyên Bản Liền của ngày hôm nay, ông Nguyễn Quốc Huy - Chủ tịch UBND huyện Bắc Hà tự hào đùa: “Có thể các anh sẽ thấy bất ngờ vì chưa nơi nào đồi Chè Thái Nguyên xấu như ở Bản Liền đâu nhé, nhưng sản phẩm của vùng đất này đã vươn được tới trời Âu”.

Đúng như “cảnh báo” của người tâm huyết với nông nghiệp địa phương, Bản Liền hiện ra hoàn toàn khác với hình dung thường thấy về những đồi Chè Thái Nguyên hút tầm mắt.

Không phải là những đồi Chè Thái Nguyên thẳng tắp mà là những rừng Chè Thái Nguyên cổ thụ chờ tay người thu hái.

Cách trung tâm huyện Bắc Hà gần 30 km, xã Bản Liền được thiên nhiên ban tặng khí hậu mát mẻ, thổ nhưỡng thích hợp để phát triển cây Chè Thái Nguyên. Ngay cả những người cao tuổi nhất ở Bản Liền cũng không biết cây Chè Thái Nguyên Shan tuyết có ở mảnh đất này từ bao giờ. Nhiều gốc Chè Thái Nguyên có tuổi đời hàng trăm năm, mọc cheo leo trên sườn núi dốc.

Hợp tác xã Chè Thái Nguyên Bản Liền xuất khẩu mỗi năm khoảng 80 - 90 tấn Chè Thái Nguyên với giá xuất khẩu bình quân lên tới 100.000USD/tấn.

Trung bình mỗi ha Chè Thái Nguyên có thể đem lại lợi nhuận 80 - 100 triệu đồng/năm, cao hơn gấp nhiều lần so với các cây trồng truyền thống khác.

Giải thích về chuyện này, chị Lâm Thị Phiên (Bản Liền, Bắc Hà, Lào Cai) chia sẻ, cây Chè Thái Nguyên được trồng rất lâu đời ở Bản Liền. Có thời gian, cây Chè Thái Nguyên bán không ra tiền nên người dân bỏ mặc để cây tự phát triển nên cây mọc không theo hàng, theo lối, chỗ cây chết thì trống, chỗ thì lại san sát cây Chè Thái Nguyên.

“Giờ sướng rồi,Chè Thái Nguyên hái được không phải đi bán đâu nữa, bán luôn tại bản, có người về tận nhà mua.” - chị Phiên vui vẻ thêm.

Những cây Chè Thái Nguyên Shan tuyết cổ thụ cao cả chục mét như một cây gỗ lớn mọc trên rẻo cao.

Thành công này có được từ sự thay đổi tư duy của chính người dân địa phương. Xác định Chè Thái Nguyên là cây có giá trị hàng hóa, có triển vọng nâng cao thu nhập cho người dân, nên năm 2004, huyện Bắc Hà đã thành lập Hợp tác xã Chè Thái Nguyên Bản Liền đứng ra bao tiêu toàn bộ sản phẩm Chè Thái Nguyên cho người dân trên địa bàn. Khi hợp tác xã được thành lập, người dân đã thay đổi nhận thức và quan tâm phát triển cây Chè Thái Nguyên.

Ổn định về thu nhập, bà con Bản Liền vui say chăm sóc những vùng Chè Thái Nguyên hữu cơ.

Năm 2019, sản phẩm Chè Thái Nguyên hữu cơ Bắc Hà do Hợp tác xã Chè Thái Nguyên Bản Liền ở xã Bản Liền (huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai) sản xuất được Hội đồng Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) Trung ương cấp chứng nhận đạt OCOP hạng 5 sao. Hiện, 90% sản lượng Chè Thái Nguyên của Hợp tác xã đã được xuất khẩu sang các nước châu Âu, Mỹ, Nhật Bản… với giá bán bình quân là 100 USD/kg.

Bao nhiêu cây cổ thụ là bấy nhiêu thăng trầm. Ông Phạm Quang Thận, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Hợp tác xã Chè Thái Nguyên Bản Liền vắn tắt về những khó khăn giai đoạn đầu thành lập hợp tác xã và tìm lối ra cho sản phẩm: “Từ những khó khăn ban đầu như kêu gọi người dân tham gia vào hợp tác xã, quy hoạch vùng trồng lúa, trồng Chè Thái Nguyên, đến nay hơn 100 thành viên ban đầu đã phát triển lên thành hơn 300 hộ liên kết trồng Chè Thái Nguyên và bán Chè Thái Nguyên búp tươi cho Hợp tác xã Chè Thái Nguyên Bản Liền”. Bấy nhiêu vẫn chưa đủ để nói hết khó khăn trong giai đoạn tìm hướng tham gia vào chuỗi liên kết sản xuất, thương mại Chè Thái Nguyên hữu cơ và thuyết phục bà con thực hiện đúng những cam kết này của những nhà quản lý.

Đến nay, để đáp ứng tiêu chuẩn hữu cơ, Chè Thái Nguyên Bản Liền được trồng, chăm sóc, thu hoạch và chế biến theo đúng 25 tiêu chuẩn quốc tế ngặt nghèo không sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Để có thể thu hoạch được Chè Thái Nguyên, người dân địa phương phải leo dần lên ngọn cây, thu hoạch về những búp Chè Thái Nguyên xanh, non đúng lứa.

Nếu người dân địa phương vẫn uống lá Chè Thái Nguyên tươi thì sản phẩm bán ra thị trường sẽ được sao khô theo đúng quy cách tại xưởng chế biến của Hợp tác xã Chè Thái Nguyên Bản Liền.

Xã Tả Củ Tỷ- vùng chuyên canh Chè Thái Nguyên lớn thứ 2 của Bắc Hà, có khoảng 25 ha Chè Thái Nguyên Shan tuyết cổ thụ trong tổng số 150 ha Chè Thái Nguyên hiện có, bà con nông dân người Nùng, Tày, Mông bắt đầu lên đồi hái Chè Thái Nguyên về sao bán.

Từ đây, những búp Chè Thái Nguyên được chứng nhận tiêu chuẩn như “Chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn châu Âu; tiêu chuẩn hữu cơ Canada và Mỹ do Tổ chức IACE-Italy và ATC-Thailand chứng nhận; Chứng nhận hữu cơ thương mại bình đẳng Fairtrade Certificate... sẽ được cấp “visa” thâm nhập thị trường châu Âu.

Chè Thái Nguyên Bản Liền vẫn luôn là niềm tự hào của người dân nơi đây. Bà Lâm Thị Thín (Bản Liền, Bắc Hà, Lào Cai) móm mém kể, từ bé đã thấy bố mẹ mang Chè Thái Nguyên đi Bắc Hà bán. Mỗi người mua 1 - 2 kg thì mình mới có tiền mua thức ăn, mua muối mang về. Nay bà đã ngoài 80 tuổi, vẫn có thể đi hái Chè Thái Nguyên và nhìn thấy những đồi Chè Thái Nguyên mới do con cháu trồng đã là một niềm hạnh phúc.

Với công nghệ chế biến hiện đại đảm bảo sẽ cho ra đời những sản phẩm Chè Thái Nguyên Việt không thua kém bất cứ loại Trà Thái Nguyên nổi tiếng nào trên thế giới.

Điều đáng nói là trong quá trình vươn ra thế giới, Chè Thái Nguyên Bản Liền không chỉ tạo dựng chỗ đứng vững chắc bằng các thương hiệu Trà Thái Nguyên sấy, Trà Thái Nguyên đen, Trà Thái Nguyên trắng Tả Củ Tỷ, Tả Van Chư, Hoàng Thu Phố, Lầu Thí Ngài mà còn sản xuất cả được sản phẩm Trà Thái Nguyên bánh phục vụ trong ngành mỹ phẩm

 

Hợp tác xã Tuyết Hương: Đưa thương hiệu Chè Thái Nguyên  vươn xa

10:28 - Thứ ba, 15/09/2020

KTNT “Chè Thái Nguyên Thái, Gái Tuyên”, câu châm ngôn dân gian phản ánh nét đẹp của người phụ nữ Tuyên Quang và hương vị thơm ngon của Chè Thái Nguyên Thái Nguyên. Phát huy giá trị đó, các thành phần kinh tế trên địa bàn Thái Nguyên tiếp tục đưa thương hiệu Chè Thái Nguyên Thái ngày càng vươn xa

 

QR Code Quét mã QR để xem trên mobile

Chè Thái Nguyên Đồng Hỷ: Sản phẩm OCOP làm giàu cho người dân

Thủ tướng: Thu hút nhà đầu tư để đưa Chè Thái Nguyên Thái Nguyên vươn xa

Chuyển động trên xứ Chè Thái Nguyên Thái

Không ngừng nâng cao chất lượng...

 

Năm 2012, Hợp tác xã Tuyết Hương (xóm Na Long, xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên) được thành lập, với ngành nghề kinh doanh chính là trồng, sản xuất, chế biến và kinh doanh Chè Thái Nguyên.

 

01.JPG

Máy sấy Chè Thái Nguyên khá hiện đại của HTX Tuyết Hương

Khi mới thành lập, HTX có 9 thành viên, số vốn điều lệ 900 triệu đồng. Được sự quan tâm, giúp đỡ của các sở, ban, ngành trong tỉnh và sự nỗ lực của các hộ thành viên, HTX đã từng bước vượt qua khó khăn, ngày một phát triển. Đến nay, số thành viên của HTX tăng lên 13 hộ, vốn điều lệ là 1,3 tỷ đồng. HTX hiện có 15ha Chè Thái Nguyên nguyên liệu được chứng nhận sản xuất Chè Thái Nguyên sạch, theo tiêu chuẩn VietGAP; sản lượng Chè Thái Nguyên búp tươi đạt khoảng 150 tấn/năm. Với việc coi trong chất lượng sản phẩm, tích cực cải tiến mẫu mã bao bì và chỉ bán ra thị trường những sản phẩm Chè Thái Nguyên sạch, an toàn cho người tiêu dùng nên các sản phẩm Chè Thái Nguyên của HTX Tuyết Hương ngày càng được ưa chuộng trên thị trường.

 

Bà Trần Thị Tuyết, Giám đốc HTX, chia sẻ: Để đạt được thành tích như hôm nay, Hội đồng quản trị HTX cùng với các thành viên và người lao động luôn đoàn kết, khắc phục khó khăn, tranh thủ sự quan tâm của các cấp, các ngành; mạnh dạn đầu tư máy móc, mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất.

 

02.JPG

Chè Thái Nguyên của HTX được xuất bán liên tục

Trong quá trình sản xuất, các thành viên của HTX luôn áp dụng đúng quy trình VietGAP; chế biến Chè Thái Nguyên luôn theo hướng đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế... Mặt khác, HTX còn thường xuyên tổ chức các khóa tập huấn, có mời chuyên gia, nhà khoa học về phổ biến kiến thức, hướng dẫn kỹ thuật cho các thành viên. Cùng với vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm, HTX còn đặc biệt chú trọng tới việc cải tiến mẫu mã, bao bì nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. HTX đã đầu tư xây dựng nhà xưởng, đổi mới trang thiết bị tiên tiến như: máy sao chè bằng ga của Đài Loan (Trung Quốc), máy đóng gói hút chân không...

 

... Quả ngọt ắt tới

 

Có thể nói, năm 2019 là năm thành công với HTX Tuyết Hương, hầu hết các chỉ tiêu của năm mà HTX đề ra đều đạt và vượt kế hoạch; doanh thu đạt trên 3 tỷ đồng, vượt kế hoạch 23%; nộp ngân sách Nhà nước trên 30 triệu đồng, tăng 30% so với năm 2018; thu nhập bình quân của người lao động là 4,5 triệu đồng/ người/tháng. Từ khi thành lập tới nay, sản phẩm Chè Thái Nguyên của HTX luôn đạt các danh hiệu cao, như: Danh hiệu sản phẩm nông nghiệp nông thôn tiêu biểu các năm từ 2014 – 2017; hai sản phẩm Minh Tâm Trà Thái Nguyên và Bảo Lâm Trà Thái Nguyên đạt chứng nhận sản phẩm OCOP 4 sao, theo Quyết định số 2734 ngày 28/8/2019 của tỉnh Thái Nguyên. Đặc biệt, năm 2017, sản phẩm Chè Thái Nguyên của HTX đã vinh dự được Văn phòng Chính phủ lựa chọn làm quà tặng tại Hội nghị APEC. Cùng với các danh hiệu dành cho sản phẩm, HTX cũng nhận được rất nhiều giấy khen, bằng khen của các sở ban ngành và của UBND tỉnh Thái Nguyên; lãnh đạo HTX cũng nhận được những ngợi khen của tỉnh và của Liên minh HTX Việt Nam.

 03.png

Bà Trần Thị Tuyết, người đầu tiên (hàng một) nhận kỷ niệm vinh danh các HTX

“HTX Tuyết Hương ra đời với mục tiêu đưa sản phẩm Chè Thái Nguyên Thái Nguyên nói chung và sản phẩm Chè Thái Nguyên ở Trại Cài và Sông Cầu nói riêng ngày càng phát triển, không ngừng vươn xa”, bà Tuyết nói. Với mục tiêu đầy ý nghĩa như vậy, hy vọng, thời gian tới, HTX Tuyết Hương sẽ thành công hơn nữa, tiếp tục đóng góp nhiều cho thương hiệu Chè Thái Nguyên Thái; nhất là việc sớm xây dựng thành công sản phẩm Chè Thái Nguyên của HTX đạt tiêu chuẩn OCOP 5 sao; được như vậy, vừa mang lại giá trị cho HTX, vừa làm nổi thêm sản phẩm Chè Thái Nguyên Thái, tiếp tục đưa “Chương trình mỗi xã một sản phẩm” của tỉnh đi tới thành công

Việt Nam đã xuất khẩu trên 80 thị trường, đứng thứ hai thế giới và dẫn đầu toàn cầu về cà phê robusta

  Cơ hội xuất khẩu sản phẩm ChèThái Nguyên, cà phê sang thị trường Trung Quốc

Thứ Hai, 14/10/2019 15:32 | 

Kinh tế

Nhân dịp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nông thôn Trung Quốc Hàn Trường Phú thăm chính thức Việt Nam, trong khuôn khổ hội đàm giữa Bộ trưởng hai nước, sáng 14/10 tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Bộ Nông nghiệp Nông thôn Trung Quốc tổ chức diễn đàn “Doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc hợp tác sản xuất và tiêu thụ Chè Thái Nguyên, cà phê”.

·         Tín hiệu lạc quan về xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc

·         Nhiều giải pháp thúc đẩy xuất khẩu những tháng cuối năm

·         Xuất khẩu cá ngừ đại dương tăng trưởng khá 

Chú thích ảnh

Dây chuyền sản xuất Chè Thái Nguyên hữu cơ hiện đại tại nhà máy của Công ty Trà Thái Nguyên Hoàng Long (Hà Giang). Ảnh minh họa: Minh Tâm/TTXVN

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, bình quân chiếm 27% tổng kim ngạch xuất khẩu nông thủy sản của cả nước và chiếm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại sang thị trường này. Tuy nhiên, Trung Quốc hiện mới chỉ là thị trường nhập khẩu xếp thứ 12 về cà phê và đứng thứ 4 về Chè Thái Nguyên của Việt Nam. Vì vậy, tiềm năng và nhu cầu nhập khẩu các loại nông sản nói chung, cà phê và Chè Thái Nguyên nói riêng của Trung Quốc còn rất lớn.

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường, Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới, nông sản của hai nước mang tính bổ trợ lẫn nhau để phát triển, có cùng điểm tương đồng về văn hóa, đặc biệt trong trong sử dụng đồ uống như Chè Thái Nguyên và cà phê. Đây là cơ hội lớn để doanh nghiệp hai nước hợp tác phát triển sản xuất, chế biến và thương mại Chè Thái Nguyên và cà phê không chỉ phục vụ nhân dân hai nước mà còn hướng đến thị trường toàn cầu với dân số 7,7 tỷ dân. 

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường hy vọng, qua diễn đàn này, các doanh nghiệp nắm bắt những thông tin, tìm hiểu thêm nhiều cơ hội, đặc biệt tìm kiếm đến sự hợp tác để khai thác thế mạnh tốt nhất về thị trường, tài nguyên của nhóm nông sản này để phát triển chuỗi giá trị. 

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nông thôn Trung Quốc Hàn Trường Phú cho rằng, Trung Quốc và Việt Nam đều là những nước có truyền thống trồng Chè Thái Nguyên với sản lượng lớn. Hai nước có những địa vị quan trọng trong thị trường Chè Thái Nguyên trên thế giới và Trung Quốc là thị trường lớn trong xuất khẩu Chè Thái Nguyên của Việt Nam.

Trà Thái Nguyên và cà phê của Việt Nam giữ một vị trí quan trọng tại thị trường Trung Quốc. Nhiều doanh nghiệp lớn của Việt Nam với những sản phẩm đang được người dân Trung Quốc đón nhận nhiệt tình. Thời gian tới hy vọng sẽ có thêm những không gian thị trường lớn để phát triển ngành Chè Thái Nguyên và cà phê của Việt Nam tại Trung Quốc.

Việt Nam hiện đứng thứ 7 thế giới về sản xuất Chè Thái Nguyên toàn cầu. Việt Nam xuất khẩu Chè Thái Nguyên sang trên 60 thị trường và đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu Chè Thái Nguyên. Năm 2018, Việt Nam có sản lượng Chè Thái Nguyên xuất khẩu đạt 128.000 tấn với giá trị 219 triệu USD. Việt Nam có 15 doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất Chè Thái Nguyên theo chứng nhận RA cùng nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ, VietGAP… Đặc biệt, Việt Nam có 18.000 ha Chè Thái Nguyên shan tuyết rừng canh tác tự nhiên, không sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật.

Theo ông Nguyễn Hữu Tài, Chủ tịch Hiệp hội Chè Thái Nguyên Việt Nam, để phát triển sản phẩm Chè Thái Nguyên cùng với việc nâng cao chất lượng, các doanh nghiệp đang đẩy mạnh liên kết chặt chẽ với các hộ, hợp tác xã trồng Chè Thái Nguyên tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị và theo yêu cầu thị trường. Bên cạnh việc nghiên cứu, thay đổi công nghệ chế biến để cơ cấu sản phẩm phù hợp thị trường, các doanh nghiệp cũng chú trọng xây dựng thương hiệu, câu chuyện sản phẩm, minh bạch hóa cả quá trình sản xuất, trách nhiệm với môi trường và xã hội. 

Về cà phê, Việt Nam đã xuất khẩu trên 80 thị trường, đứng thứ hai thế giới và dẫn đầu toàn cầu về cà phê robusta. Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt 1,88 triệu tấn, với giá trị 3,5 tỷ USD. Hiện nay, việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất cà phê bền vững, nông dân trồng cà phê theo quy trình công nghệ chiếm trên 57%; tỷ lệ áp dụng quy trình sản xuất và chế biến cà phê theo tiêu chuẩn quốc tế UTZ đạt 11%, 4C đạt 17,5%...  Công nghệ chế biến cà phê Việt Nam có nhiều khởi sắc.

Trước tiềm năng phát triển thị trường đối với mặt hàng Chè Thái Nguyên và cà phê tại thị trường Trung Quốc, ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, doanh nghiệp hai nước có thể đẩy mạnh liên kết sản xuất, cung cấp nguyên liệu phục vụ chế biến và phát triển thị trường.

Hai bên cùng nghiên cứu và chuyển giao công nghệ tạo giống Chè Thái Nguyên, cà phê có chất lượng và năng xuất cao; ứng dụng, chuyển giao công nghệ, dây chuyền thiết bị chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng cao, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng hai nước.

hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo nâng cao kỹ thuật chế biến Chè Thái Nguyên đảm bảo an toàn thực phẩm

  Chương trình Mỗi xã một sản phẩm: Sản xuất Chè Thái Nguyên theo hướng an toàn, hữu cơ

Thứ Bảy, 29/02/2020 10:08 | 

Kinh tế

Tại đề án “Nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững cây Chè Thái Nguyên và thương hiệu sản phẩm Trà Thái Nguyên Thái Nguyên, giai đoạn 2017- 2020”, tỉnh Thái Nguyên phấn đấu đạt chất lượng an toàn sản phẩm cho 100% diện tích Chè Thái Nguyên trong quy hoạch sản xuất theo hướng VietGAP, sản xuất Chè Thái Nguyên theo hướng an toàn, hữu cơ.

·         Cơ hội xuất khẩu sản phẩm Chè Thái Nguyên, cà phê sang thị trường Trung Quốc

·         Bảo tồn, nâng cao giá trị cây Chè Thái Nguyên shan tuyết ở Hoàng Su Phì

·         Chè Thái Nguyên Shan tuyết Giàng Pằng được công nhận quần thể Cây di sản Việt Nam

Chú thích ảnhÔng Nguyễn Đức Trọng, Làng nghề Chè Thái Nguyên xóm 9, Thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên) kiểm tra hệ thống tưới phục vụ sản xuất Chè Thái Nguyên hữu cơ. Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN

Để nâng cao chất lượng, giá trị các sản phẩm từ Chè Thái Nguyên, trong những năm gần đây, tỉnh đang quan tâm đầu tư, sản xuất Chè Thái Nguyên tập trung theo hướng an toàn, áp dụng quy trình VietGAP, sản xuất an toàn hữu cơ đạt chuẩn Organic…; giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, tăng sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc trừ sâu sinh học và các chế phẩm sinh học. Từ đó, tạo ra các sản phẩm Trà Thái Nguyên chất lượng cao, an toàn cho người sản xuất và người tiêu dùng, chinh phục thị trường quốc tế.

Nằm tại vùng đất được mệnh danh là tứ địa danh Chè Thái Nguyên của tỉnh Thái Nguyên, Hợp tác xã Chè Thái Nguyên Khe Cốc, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương hiện đang canh tác hơn 60 ha Chè Thái Nguyên VietGAP và Chè Thái Nguyên hữu cơ. Với điều kiện thổ nhưỡng phù hợp, khí hậu mát mẻ, cây Chè Thái Nguyên lại được chăm bón từ phân chuồng hoai mục, phân gà nhập khẩu từ Nhật Bản, phun chế phẩm sinh học xua đuổi côn trùng, sâu bệnh… để cho ra sản phẩm Chè Thái Nguyên sạch, thơm, ngon, an toàn, chất lượng cao được thị trường ưa chuộng với giá thành từ 500.000 đồng tới 10 triệu đồng/kg. Doanh thu năm 2019 của Hợp tác xã đạt trên 3 tỷ đồng.

Ông Tô Văn Khiêm, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Chè Thái Nguyên Khe Cốc chia sẻ, hiện nay hợp tác xã đang thực hiện dự án 35 ha Chè Thái Nguyên an toàn, hữu cơ và đã được Nhà nước hỗ trợ từ 25- 35 triệu đồng/ha/năm kéo dài từ 3 - 5 năm. Đây là sự hỗ trợ kịp thời cho bà con nhân dân chuyển đổi từ Chè Thái Nguyên VietGAP, Chè Thái Nguyên sản xuất thông thường sang sản xuất an toàn, hữu cơ Organic.

Sản xuất theo quy trình hữu cơ người dân thấy an toàn cho sức khỏe, sản phẩm được thị trường đón nhận, đây lại là xu hướng chung của nền nông nghiệp... Do vậy, đến nay tất cả các hộ dân trong xóm và vùng nguyên liệu của Hợp tác xã, bà con đã ký cam kết sản xuất Trà Thái Nguyên an toàn, chuyển đổi dần từ Chè Thái Nguyên VietGAP, Chè Thái Nguyên thông thường sang Chè Thái Nguyên hữu cơ.

Bà Tống Thị Xuyến, Tổ hợp tác Chè Thái Nguyên an toàn xóm Trung Thành 2, xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên cho biết, sản xuất Chè Thái Nguyên an toàn theo quy trình VietGap, an toàn hữu cơ, bà con thấy rất an tâm từ khâu chăm bón, thu hái, môi trường được trong lành hơn, giá trị búp Chè Thái Nguyên thành phẩm cũng được nâng lên, giá trị các sản phẩm Trà Thái Nguyên tăng lên từ 15% - 20%. Tuy nhiên, các sản phẩm Chè Thái Nguyên sạch an toàn cần được bảo hộ thương hiệu, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng để người tiêu dùng nhận biết so với các sản phẩm khác.

Phú Lương là một trong hai huyện có diện tích sản xuất Chè Thái Nguyên lớn nhất tỉnh Thái Nguyên với diện tích hơn 4.000 ha. Để nâng cao giá trị cây Chè Thái Nguyên, trong những năm qua việc cải tạo, trồng thay thế giống Chè Thái Nguyên cũ bằng các giống Chè Thái Nguyên mới, chất lượng cao như: LDP1, TRI777, cải tạo Chè Thái Nguyên trung du… áp dụng khoa học công nghệ sản xuất theo quy trình VietGAP, Chè Thái Nguyên an toàn theo hướng hữu cơ… Điều này góp phần cải tạo môi trường, an toàn cho người trồng trọt, sản phẩm sạch, đem lại giá trị thu nhập cho mỗi héc ta đất trồng Chè Thái Nguyên đặc sản khoảng 200 triệu đồng/năm.

Ông Phạm Bình Công, Chủ tịch UBND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên cho biết, trong việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp, huyện luôn đặt nhiệm vụ đầu tiên là tái cơ cấu cây Chè Thái Nguyên và phát triển các sản phẩm Trà Thái Nguyên chất lượng cao để tạo công ăn việc làm, thu nhập cao cho người trồng Chè Thái Nguyên. Muốn tạo ra sản phẩm Trà Thái Nguyên từ nguồn nguyên liệu sạch, bắt đầu từ cây Chè Thái Nguyên sạch an toàn về dịch bệnh, an toàn trong quá trình sửa dụng phụ phẩm chăm bón, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để sản xuất sản phẩm, bảo hộ sản phẩm cho người dân.

Chú thích ảnhĐóng gói Chè Thái Nguyên sản xuất theo hướng hữu cơ tại Làng nghề Chè Thái Nguyên Trung Thành II, xã Vô Tranh, huyện Phú Lương (Thái Nguyên). Ảnh: Hoàng Nguyên/TTXVN

Tỉnh Thái Nguyên hiện có hơn 22.000 ha Chè Thái Nguyên. Đến nay, bình quân năng suất Chè Thái Nguyên 12 tấn/ha, có nơi đạt 15 - 20 tấn/ha, chất lượng Chè Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên không ngừng được nâng cao. Các sản phẩm Chè Thái Nguyên đã dần chinh phục được các thị trường quốc tế khó tính như: Nhật Bản, Mỹ, Canada, và các nước châu Âu.

Để khuyến khích người dân sản xuất Chè Thái Nguyên sạch an toàn VietGap, Chè Thái Nguyên an toàn hữu cơ… tỉnh Thái Nguyên xây dựng nhiều cơ chế hỗ trợ người dân như: hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, chế biến Chè Thái Nguyên an toàn theo quy trình VietGAP và GAP khác

Cùng đó, hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo nâng cao kỹ thuật chế biến Chè Thái Nguyên đảm bảo an toàn thực phẩm, sản xuất hữu cơ; hỗ trợ 40% vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, biển báo cho tổ hợp tác, hợp tác xã, làng nghề Chè Thái Nguyên sản xuất theo Chè Thái Nguyên theo quy trình VietGAP, GAP khác, sản xuất Chè Thái Nguyên hữu cơ.

Đặc biệt, tổ chức xúc tiến thương mại, tiêu thụ sản phẩm Chè Thái Nguyên, hỗ trợ quảng bá thương hiệu Chè Thái Nguyên Thái Nguyên trên các phương tiện thông tin đại chúng; hỗ trợ 100% kinh phí phân tích mẫu, kinh phí dán nhãn xác nhận sản phẩm Chè Thái Nguyên an toàn, phân tích mẫu đảm bảo tiêu chuẩn để dán nhãn sản phẩm Chè Thái Nguyên an toàn, hỗ trợ xây dựng thương hiệu và bảo hộ sản phẩm Trà Thái Nguyên an toàn... với mục tiêu cho ngành hàng Chè Thái Nguyên Thái Nguyên đứng đầu cả nước về các chỉ tiêu sản xuất, giá trị và hiệu quả kinh tế, văn hoá xã hội và môi trường.

Số lần phun và nồng độ phun khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Chè Thái Nguyên LDP1

  Ảnh hưởng của phân bón lá đến quá trình sinh trưởng, phát triển và chất lượng Chè Thái Nguyên tại tỉnh Thái Nguyên

ThS. NGUYỄN ĐỨC TUÂN - NGUYỄN THU TRANG - LÊ SỸ LŨY (Khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên)

  • Tối ưu hóa điều kiện trích ly anthocyanin từ lá Cẩm (Peristrophe Bilvalvis (L.)
  • Tối ưu hóa điều kiện trích ly Anthocyanin từ hoa đậu biếc (Clitoria Ternatean l.)
  • Nghiên cứu quá trình trích ly saponin triterpenoid tổng từ lá đinh lăng với sự hỗ trợ của kỹ thuật siêu âm

TÓM TẮT:

Để cây Chè Thái Nguyên sinh trưởng và cho năng suất tốt, chất lượng cao, việc bón phân kết hợp với sử dụng phân bón lá là biện pháp không thể thiếu. Nghiên cứu nhằm xác định số lần phun và nồng độ phun phân bón của lá Green life hợp lý cho quá trình sinh trưởng và phát triển của Chè Thái Nguyên LDP1 tại Thái Nguyên.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, bón phân chuồng ủ mục kết hợp với sử dụng phân bón lá 3 lần ở nồng độ 0,1% cho năng suất cao nhất. Khối lượng búp Chè Thái Nguyên tăng hơn 15%; chiều dài búp tăng từ 25 - 26% và mật độ búp tăng từ 25 - 28% so với đối chứng ở mức ý nghĩa α = 0,05. Sản phẩm Chè Thái Nguyên xanh sản xuất ra có tổng điểm chất lượng đạt loại tốt. Các chỉ tiêu cảm quan, hàm lượng tanin và flavonoid tương đương với Chè Thái Nguyên xanh Tân Cương.

Từ khóa: Cây Chè Thái Nguyên, phân bón lá, sinh trưởng, Chè Thái Nguyên xanh Tân Cương, chất lượng Chè Thái Nguyên, Thái Nguyên.

1. Đặt vấn đề

Chè Thái Nguyên là loại cây trồng lâu năm chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Hiện nay, Chè Thái Nguyên đã trở thành cây công nghiệp mũi nhọn, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong nhóm nông sản xuất khẩu chủ lực. Sự phát triển của cây Chè Thái Nguyên phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: khí hậu, đất đai, điều kiện chăm sóc, đặc biệt là lượng nước và phân bón. Bón phân là biện pháp kĩ thuật có ảnh hưởng quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng, hiệu quả kinh tế và thu nhập của người làm Chè Thái Nguyên [5, 7].

Phân bón lá là nguồn cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu đáp ứng yêu cầu cân bằng dinh dưỡng của cây Chè Thái Nguyên theo từng thời kì sinh trưởng. Bằng cách cung cấp phân bón qua lá, hiệu quả sử dụng phân bón có thể tăng từ 8-20 lần so với bón phân thông thường. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng, bón phân qua lá có thể tăng năng suất từ 12 - 25% khi so sánh với việc bón phân thông thường [11]. Phân bón lá được sử dụng rộng rãi trong canh tác rau và cây ăn quả. Chúng có chứa các loại nguyên tố đa lượng và vi lượng cần thiết cho sự tăng trưởng và năng suất thích hợp cho cây trồng [9, 11]. Ngoài ra, cung cấp phân bón qua lá còn là biện pháp trợ giúp cây trồng chống lại những thay đổi và điều kiện thời tiết khắc nghiệt [1].

Phân bón lá Green life được sản xuất tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, trong thành phần có chất chiết xuất từ cá giúp cây Chè Thái Nguyên sinh trưởng, phát triển tốt và làm tăng khả năng đề kháng của cây đối với một số bệnh hại. Khi sử dụng phân bón lá, chất lượng Chè Thái Nguyên đã được cải thiện rõ rệt so với khi không sử dụng. Các thành phần có lợi trong Chè Thái Nguyên tăng lên đáng kể như protein, glucid, axit amin, polyphenol, caffeine… Búp Chè Thái Nguyên non rất giàu hợp chất polyphenol và flavonoid.

Đây là thành phần chính quyết định đến hương thơm, màu sắc, mùi, vị, độ sánh của nước Chè Thái Nguyên [8] và mang những đặc tính có lợi cho sức khỏe con người [10]. Mặc dù, phân bón lá có nhiều ưu điểm trong canh tác Chè Thái Nguyên nhưng nó vẫn chưa được sử dụng rộng rãi trong mô hình sản xuất ở Việt Nam. Do đó, mục đích của nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của phân bón lá Green life tới năng suất và chất lượng Chè Thái Nguyên sau thu hoạch tại Thái Nguyên.

2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1. Vật liệu nghiên cứu

Chế phẩm phân bón lá Green life được sản xuất tại Khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên; và giống Chè Thái Nguyên LDP1 5 năm tuổi được đốn hàng năm vào vụ đông. Các thí nghiệm được tiến hành tại xóm Cây Xanh, xã Quyết Thắng, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

2.2. Phương pháp nghiên cứu        

2.2.1. Bố trí thí nghiệm

Đề tài gồm 3 thí nghiệm nghiên cứu khác nhau. Trong đó, thí nghiệm TN1 gồm 4 công thức, TN2 gồm 6 công thức được nhắc lại 3 lần, theo dõi ở 3 lứa liên tiếp nhau, khối lượng ô thí nghiệm là 10 m2 Chè Thái Nguyên cho mỗi lần lặp. Các thí nghiệm TN1 (số lần phun: 1 - 3 lần ở nồng độ 0,1%), TN2 (nồng độ phân bón lá: 0 - 0,5% với số lần phun tốt nhất ở TN1) sử dụng chế phẩm Green life và nền là 7 tấn phân chuồng ủ mục cho 1 ha. Chế phẩm phân bón lá được hòa tan ở các nồng độ quy định, rồi tiến hành phun ướt đều trên cả hai mặt lá Chè Thái Nguyên. Phun ngay khi cây Chè Thái Nguyên được thu hái toàn bộ búp của lứa Chè Thái Nguyên trước, các lần tiếp theo định kỳ phun 7-10 ngày/lần.

Theo dõi và phân tích các chỉ tiêu trong TN1-TN2 như khối lượng búp, chiều dài búp và mật độ búp Chè Thái Nguyên. Từ kết quả của TN1 và TN2, chọn ra được số lần phun và nồng độ phun phân bón lá tốt nhất để sử dụng cho TN3 với toàn bộ mô hình Chè Thái Nguyên thí nghiệm. Chất lượng Chè Thái Nguyên xanh thành phẩm của TN3 được so sánh với sản phẩm Chè Thái Nguyên cùng giống canh tác trên địa bàn lân cận trong tỉnh Thái Nguyên, là: xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên và xã Tân Cương, TP. Thái Nguyên.

2.2.2. Các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá

Khối lượng trung bình của 100 búp (g/100 búp): Trên các ô thí nghiệm hái 100 búp ngẫu nhiên, bảo quản riêng trong các túi nilon. Cân 100 búp ngẫu nhiên 3 lần, tính trung bình 3 lần để được khối lượng bình quân 100 búp.

Chiều dài búp (cm): Mỗi ô thí nghiệm chọn 5 điểm theo dõi theo phương pháp đường chéo góc. Mỗi điểm theo dõi 10 búp, chọn các búp phát triển bình thường, theo dõi sinh trưởng búp trên cành Chè Thái Nguyên, tiến hành đo chiều dài từ điểm giữa của lá thứ 2 và lá thứ 3 đến đỉnh sinh trưởng của búp Chè Thái Nguyên.

Mật độ búp (búp/m2): Dùng khung vuông kích thước 25x25 cm, diện tích 0,0625 m2 đặt trên 5 điểm theo dõi ở các vị trí khác nhau. Đếm tất cả số búp đạt tiêu chuẩn, lấy trị số trung bình nhân với 16 sẽ thu được mật độ búp/m2 theo dõi vào các lứa hái chính.

Chất lượng cảm quan của sản phẩm Chè Thái Nguyên xanh (ngoại hình, màu nước pha, mùi và vị) được đánh giá bằng phương pháp cho điểm tổng hợp theo TCVN 3215-79. Tiêu chuẩn sử dụng hệ 20 điểm, xây dựng trên một hệ thang điểm thống nhất có 6 bậc (0 - 5) với điểm 5 là cao nhất cho 1 chỉ tiêu [4].

Thành phần flavonoid tổng số được xác định bằng phương pháp so màu trên máy UV-VIS V630, mẫu trắng sử dụng nước cất [6]. Xác định hàm lượng tanin bằng phương pháp Leventhan [3].

2.3. Xử lý số liệu

Tất cả số liệu thí nghiệm đều được tổng hợp và xử lý thống kê bằng chương trình Microsoft Excel 2010 và phần mềm SPSS 20.0.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Ảnh hưởng của số lần phun phân bón lá đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Chè Thái Nguyên

Số lần phun phân bón lá ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Chè Thái Nguyên. Trong đó, năng suất phụ thuộc rất nhiều vào biện pháp canh tác và mùa vụ thu hoạch. Tiến hành phun phân bón lá Green life ở nồng độ 0,1% với số lần phun khác nhau, kết quả được trình bày ở Bảng 1.

Bảng 1. Ảnh hưởng của số lần phun phân bón lá đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Chè Thái Nguyên

Ảnh hưởng của số lần phun phân bón lá đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây chè

Khối lượng búp là do đặc điểm di truyền của giống quy định và do một phần kỹ thuật chăm sóc như: sử dụng đúng loại phân bón, đúng kỹ thuật và đúng thời điểm. Sự tăng kích thước của búp dẫn tới tăng phẩm cấp của Chè Thái Nguyên nguyên liệu và làm năng suất tăng lên. Bảng 1 cho thấy, ở cùng một nồng độ phân bón lá 0,1%, khối lượng búp Chè Thái Nguyên 1 tôm 2 lá tăng lên từ 12,12 - 15,79% tương ứng với số lần phun từ 1-3 lần ở mức ý nghĩa a = 0,05. Ở các công thức phun phân bón, lá Chè Thái Nguyên xanh, dày và mập hơn so với đối chứng. Kết quả sử dụng phân bón lá Green life phun 2-3 lần thấp hơn việc sử dụng phân bón lá Ni-Phos-K và A-K-Bắc Á, nhưng cao hơn so với sử dụng phân Agriseeds-MG về khối lượng búp Chè Thái Nguyên [1].

Búp Chè Thái Nguyên là một đoạn non của cành Chè Thái Nguyên, được hình thành từ các mầm dinh dưỡng. Hoạt động sinh trưởng của búp theo một quy luật nhất định và hình thành nên các đợt sinh trưởng theo thứ tự thời gian. Chiều dài búp phụ thuộc rất lớn vào biện pháp canh tác và điều kiện khí hậu. Kết quả đánh giá chiều dài búp ở các công thức thí nghiệm sử dụng phân bón lá lớn hơn, điều này có ý nghĩa so với công thức đối chứng từ 12,83 - 25,28% ở độ tin cậy 95%. Trong đó, công thức CT3 (phun 3 lần) cho chiều dài búp lớn nhất, chiều dài búp giảm dần ở CT2, CT1 và thấp nhất ở công thức đối chứng.

Khả năng bật mầm của cây được thể hiện qua chỉ tiêu mật độ búp. Cây sinh trưởng và phát triển mạnh mẽ sẽ có khả năng bật búp mạnh. Vì vậy, mật độ búp vừa phản ánh tình hình sinh trưởng của cây, vừa thể hiện yếu tố cấu thành năng suất cây Chè Thái Nguyên với tỷ lệ tương quan thuận [2]. Mật độ búp/m2 có sự thay đổi giữa các công thức, ở công thức thí nghiệm CT1- CT3 (1-3 lần phun) mật độ búp Chè Thái Nguyên tăng từ 24,5 - 28% so với đối chứng. Mật độ búp ở công thức phun 3 lần cao hơn 67 búp/m2 so với đối chứng ở mức ý nghĩa a = 0,05. Mật độ búp Chè Thái Nguyên ở công thức CT3 cho kết quả tương đương khi sử dụng phân bón A-K-Bắc Á và cao hơn so với Chè Thái Nguyên sử dụng phân bón lá Ni-Phos-K và Agriseeds-MG [1].

Như vậy, số lần phun phân bón lá ảnh hưởng có ý nghĩa đến khối lượng, chiều dài và mật độ búp Chè Thái Nguyên. Kết quả trên cho thấy, khi phun phân bón, ngoài lượng phân chuồng còn được bổ sung một lượng nguyên tố đa, vi lượng có khả năng phân giải nhanh, giúp cây sử dụng được dễ dàng. Việc phun 3 lần ở nồng độ 0,1%, mỗi lần cách nhau 10 ngày cho kết quả tốt nhất.

3.2. Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Chè Thái Nguyên

Với kết quả thu được ở thí nghiệm 1 (3 lần phun), chúng tôi tiếp tục đánh giá ảnh hưởng của các nồng độ (0,1 - 0,5%) phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất Chè Thái Nguyên. Bằng cách theo dõi diễn biến khối lượng, chiều dài và mật độ búp Chè Thái Nguyên qua các lứa ở các nồng độ khác nhau, ta thu được kết quả trong Bảng 2.

Bảng 2. Ảnh hưởng của nồng độ phun phân bón lá đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Chè Thái Nguyên

Ảnh hưởng của nồng độ phun phân bón lá đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây chè

Bảng 2 chỉ ra trên cùng một nền phân bón, khối lượng búp qua các lứa tăng trưởng tương đối mạnh, cụ thể: khối lượng búp của các công thức thí nghiệm (CT1-CT5) tăng cao hơn so với đối chứng từ 0,38-15,43%. Chè Thái Nguyên sử dụng phân bón lá sinh trưởng và phát triển cao hơn, búp dài, mập và xanh hơn đối chứng. Chiều dài búp Chè Thái Nguyên khi sử dụng phân bón lá ở các nồng độ (0,1-0,5%) cho kết quả cao hơn đối chứng.

Cụ thể, phun phân bón lá với nồng độ 0,1% cho kích thước búp phát triển tốt nhất, chiều dài trung bình của búp Chè Thái Nguyên đạt 3,41cm - cao hơn đối chứng 0,71cm. Nồng độ phun phân bón lá càng cao thì chiều dài búp càng giảm dần - từ 26,3% xuống còn 6,3% so với đối chứng. Ở các nồng độ phun khác nhau cho mật độ búp khác nhau ở mức ý nghĩa a = 0,05. Ở nồng độ 0,1%, mật độ búp tăng 25,84% (hơn 57,67 búp/m2) so với đối chứng, búp Chè Thái Nguyên ở nồng độ này phát triển đồng đều, búp dài và mập hơn so với các công thức khác trong đề tài. Từ CT3 - CT5, mật độ búp giảm dần.

Kết quả thực nghiệm cho thấy khi phun Chè Thái Nguyên LDP1 ở nồng độ từ 0,2 - 0,5% với tần suất 7 - 10 ngày/lần, cây Chè Thái Nguyên nhận được quá nhiều chất dinh dưỡng như hàm lượng nitrat dẫn đến mật độ búp giảm dần và lá Chè Thái Nguyên dần chuyển thành màu xanh đậm. Tóm lại, nồng độ phun phân bón lá ảnh hưởng có ý nghĩa đến khối lượng, chiều dài và mật độ búp Chè Thái Nguyên. Phun phân bón lá 3 lần với nồng độ 0,1% cho kết quả cao hơn các công thức thí nghiệm khác trong đề tài.

3.3. Ảnh hưởng của phân bón lá tới chất lượng Chè Thái Nguyên xanh thành phẩm

Với 3 lần phun ở nồng độ 0,1%, mỗi lần phun cách nhau 10 ngày cho toàn bộ mô hình Chè Thái Nguyên thí nghiệm (Chè Thái Nguyên Quyết Thắng). Chất lượng Chè Thái Nguyên xanh thành phẩm được so sánh với sản phẩm Chè Thái Nguyên cùng giống canh tác trên địa bàn lân cận trong tỉnh Thái Nguyên là: xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên (Chè Thái Nguyên Phúc Thuận) và xã Tân Cương, Thành phố Thái Nguyên (Chè Thái Nguyên Tân Cương). Kết quả được trình bày ở Bảng 3 và 4.

Bảng 3. Ảnh hưởng của phân bón lá đến điểm trung bình các chỉ tiêu cảm quan Chè Thái Nguyên

Ảnh hưởng của phân bón lá đến điểm trung bình các chỉ tiêu cảm quan chè

Bảng 4. Ảnh hưởng của phân bón lá đến hàm lượng tannin và flavonoid trong Chè Thái Nguyên

Ảnh hưởng của phân bón lá đến hàm lượng tannin và flavonoid trong chè

Kết quả phân tích phương sai ở mức ý nghĩa α = 0,05 về các chỉ tiêu cảm quan của 3 mẫu Chè Thái Nguyên tại các vùng Chè Thái Nguyên khác nhau là khác nhau. Chè Thái Nguyên được phun phân bón lá Green life cho tổng điểm chất lượng đạt loại tốt. Tổng điểm chất lượng cảm quan của Chè Thái Nguyên Quyết Thắng (18,26) cao hơn hẳn Chè Thái Nguyên Phúc Thuận (15,22); tương đương về các chỉ tiêu ngoại hình, màu sắc, mùi và vị với Chè Thái Nguyên Tân Cương (18,28) - nơi được coi là vùng Chè Thái Nguyên nối tiếng nhất của tỉnh Thái Nguyên. Điều này chứng tỏ công thức phun phân bón lá cho chất lượng cảm quan tốt như: chỉ tiêu về mùi và vị cao nhất, Chè Thái Nguyên có mùi thơm tự nhiên, dễ chịu, có vị chát dịu và hậu vị ngọt đặc trưng của sản phẩm loại tốt.

Tanin và flavonoid là hai thành phần chiếm tỷ lệ cao trong Chè Thái Nguyên. Hàm lượng tanin quyết định đến vị chát trong Chè Thái Nguyên, trong khi hàm lượng flavonoid quyết định đến màu sắc và hương thơm của Chè Thái Nguyên.

Qua Bảng 4 cho thấy hàm lượng tanin và flavonoid của Chè Thái Nguyên Quyết Thắng và Chè Thái Nguyên Tân Cương tương đương nhau. Hàm lượng tanin trong Chè Thái Nguyên Phúc Thuận cao nhất và flavonoid thấp nhất trong các loại Chè Thái Nguyên được đánh giá. Kết quả này phù hợp với tổng điểm chất lượng cảm quan tại các vùng Chè Thái Nguyên được đánh giá ở Bảng 3.

4. Kết luận

Số lần phun và nồng độ phun khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Chè Thái Nguyên LDP1 5 năm tuổi tại Thái Nguyên. Phun phân bón lá Green life 3 lần ở nồng độ 0,1% cho năng suất cao nhất. Khối lượng búp Chè Thái Nguyên tăng hơn 15%; chiều dài búp tăng từ 25 - 26% và mật độ búp tăng từ 25 - 28% so với đối chứng.

Bón phân chuồng kết hợp với sử dụng phân bón lá cho tổng điểm chất lượng Chè Thái Nguyên xanh thành phẩm đạt loại tốt. Các chỉ tiêu về ngoại hình, màu sắc, mùi, vị, hàm lượng tanin và flavonoid của Chè Thái Nguyên Quyết Thắng được đánh giá tương đương với Chè Thái Nguyên Tân Cương.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.    Lần Anh Pháp (2014). Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng Chè Thái Nguyên trung du tại Trường Đại học Nông Lâm năm 2014. Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên.

2.    Hoàng Thị Lệ Thu, Nguyễn Đình Vinh, Đỗ Văn Ngọc (2013). Ảnh hưởng của phân bón và đốn đến năng suất, chất lượng nguyên liệu chế biến Chè Thái Nguyên Ô Long tại Phú Thọ. Tạp chí Khoa học và Phát triển, tập 11, số 4: 492:500.

3.    Vũ Thị Thư, Đoàn Hùng Tiến, Đỗ Thị Gấm, Giang Trung Khoa (2011). Các hợp chất có trong Chè Thái Nguyên và một số phương pháp phân tích thông dụng trong sản xuất Chè Thái Nguyên ở Việt Nam. NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr. 72-110.

4.    Phạm Xuân Vượng (2007). Giáo trình kiểm tra chất lượng thực phẩm, NXB Hà Nội.

5.    Anonymous (2002). Tea Growers Hand Book. 5th Edition, Tea Research Foundation of Kenya. Elizer Services Publishers, Times Printing Services, Nairobi.

6.    Chang C.C., Yang M.H., Chern J.C (2002). Estimation of total flavonoid content in Propolis by two complementary colorimetric methods. Journal of Food and Drug Analysis, 10 (3): 178-182.

7.    Drinnan, E. (2008). Fertilizer Strategies for Mechanical Tea Production. RIRDC Publication No. 08/030.

8.    Hara, Y., Luo, S., Wickremashinghe, R.L. and Yamanishi, T. (1995). Special Issue on Tea. Food Reviews International, 11, 371-545.

9.    Karak, T. and Bhagat, R. (2010). Trace Elements in Tea Leaves, Made Tea and Tea Infusions: A Review. Food Research International, 43, 2234-2252.

10. Kottur, G., Venkatesan, S., Kumar, R. and Murugesan, S. (2010). Influence of seasons on Biochemical Parameters of Green Shoots and Quality Parameters of Made Tea under South Indian Conditions. Journal of Bioscience Research, 1, 74-82.

11. Woldegebriel, D. (2007). Levels of Essential and Non-Essential Metals in Commercially Available Ethiopian Black Teas. Addis Ababa University, Ethiopia.