Thứ Ba, 6 tháng 10, 2020

đây là phân bón cấp từ Công ty CP Vật tư nông nghiệp tỉnh nên hoàn toàn yên tâm về chất lượng.

  Hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất chè Thái Nguyên cao cấp

Cập nhật ngày: 14/09/2020 11:07 (GMT +7)

 

Những năm vừa qua, Hội Nông dân huyện Đồng Hỷ đã tích cực phối hợp với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp triển khai nhiều chương trình, hoạt động nhằm hỗ trợ hội viên phát triển sản xuất. Trong đó, chương trình cung ứng phân bón trả chậm đã và đang giúp nhiều nông dân trên địa bàn huyện có thêm nguồn vốn để đầu tư, phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế.

 

3 năm trở lại đây, kể từ khi được mua phân bón trả chậm theo chương trình của Hội Nông dân xã Hòa Bình, gia đình chị Bùi Thị Hạ, xóm Tân Đô không còn lo lắng về tiền đầu tư mua phân bón khi mùa vụ đến như trước. Chị Hạ cho biết: Gia đình tôi rất khó khăn, nhà có 5 nhân khẩu, thu nhập chủ yếu phụ thuộc vào hơn 6 sào lúa. Chi phí đầu tư đầu mỗi vụ gieo cấy rất nhiều, từ việc thuê cày, bừa, cấy, tiền giống... nên gia đình tôi đăng ký mua phân bón (6 tạ/vụ) theo phương thức trả chậm để giảm gánh nặng. Tôi thấy, mua phân bón trả chậm rất tiện, chỉ cần mua 2 lần là đủ dùng cho cả năm, sau khi thu hoạch mới phải trả tiền, hơn nữa, lãi suất cũng rất hợp lý (0,067%/tháng). Cũng từ chương trình này, gia đình tôi mạnh dạn thuê hơn 5 sào đất để trồng Chè Thái Nguyên, kiếm thêm thu nhập.

 

Gia đình chị Hạ là một trong nhiều hộ dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tham gia mua phân bón trả chậm để đầu tư sản xuất nông nghiệp. Tham gia chương trình này, người dân còn được tập huấn cáchsử dụng phân bón đúng cách và hiệu quả; biết cách phân biệt phân bón thật, giả...Bà Dương Thị Thu Hằng, Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện Đồng Hỷ cho biết: Người dân trên địa bàn thu nhập chủ yếu vào nông nghiệp (với 2 loại cây chính là Chè Thái Nguyên và lúa), do đó, việc cung ứng phân bón trả chậm rất thiết thực, giúp nhiều hộ dân, nhất là những hộ có hoàn cảnh khó khăn bớt đi gánh nặng đầu tư khi mùa vụ đến. Chính vì vậy, nhiều năm qua, Hội Nông dân huyện đã phối hợp với Chi nhánh Vật tư nông nghiệp huyện triển khai chương trình cung ứng phân bón trả chậm qua kênh tín chấp của Hội.

 

Để tạo điều kiện cho hội viên được mua phân bón trả chậm được thuận lợi, trước mỗi vụ, Hội Nông dân huyện Đồng Hỷ đã chỉ đạo Hội Nông dân các xã, thị trấn thông báo bảng giá từng loại phân bón đến các chi hội và bà con. Hội viên nào có nhu cầu mua thì đăng ký sau đó tổng hợp, thông báo số lượng đến đơn vị cung ứng để cấp cho người dân. Ông Phạm Văn Thẩm, Giám đốc Chi nhánh Vật tư nông nghiệp huyện Đồng Hỷ chia sẻ: Điều kiện để được mua phân bón trả chậm là hội viên Hội Nông dân, người mua phải trả lãi suất tương ứng với lãi suất ngân hàng (8%/năm)... Sau khi thu hoạch nông sản, hội cơ sở có trách nhiệm thu hồi kinh phí và thanh toán cho đơn vị cung ứng. Về nguồn gốc sản phẩm, đây là phân bón cấp từ Công ty CP Vật tư nông nghiệp tỉnh nên hoàn toàn yên tâm về chất lượng.

 

Theo số liệu thống kê, trung bình mỗi năm, Chi nhánh cấp phân bón cho nông dân khoảng 400-500 tấn các loại, gồm: NPK, đạm, lân... Bà Dương Thị Thu Hằng cho biết thêm: Hiện nay, số hộ dân mua phân bón trả chậm giảm hơn so với những năm trước (khoảng 2 năm trước có tới 600-700 hộ tham gia, với trên 1.000 tấn), điều này chứng tỏ đời sống của người dân đang dần được cải thiện, bà con đã chủ động được nguồn vốn để đầu tư cho sản xuất. Hơn 200 hộ dân đang tham gia hiện nay đều là những hộ có hoàn cảnh khó khăn hoặc những hộ không chủ động được nguồn vốn tại thời điểm nhất định. Vậy nhưng qua nhiều năm thực hiện chương trình này bà con luôn thanh toán tiền đầy đủ, không có tình trạng nợ đọng.

Được biết, trên cơ sở xác định được tiềm năng, lợi thế trong việc phát triển cây dược liệu tại địa phương

  Hướng đi hiệu quả ở vùng chè Thái Nguyên tại Võ Nhai

Cập nhật ngày: 14/09/2020 08:51 (GMT +7)

 Ông Hà Quốc Vượng (bên trái), Giám đốc HTX Thịnh Vượng, ở xã Nghinh Tường (Võ Nhai) chia sẻ kinh nghiệm trồng cây dược liệu dưới tán rừng với người dân địa phương. Ảnh: H.H

Ông Hà Quốc Vượng (bên trái), Giám đốc HTX Thịnh Vượng, ở xã Nghinh Tường (Võ Nhai) chia sẻ kinh nghiệm trồng cây dược liệu dưới tán rừng với người dân địa phương. Ảnh: H.H

Mở rộng diện tích trồng cây dược liệu dưới tán rừng là giải pháp giúp bảo vệ tài nguyên rừng hiệu quả, đồng thời tạo sinh kế để người dân vùng cao phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập. Thời gian qua, mô hình này bước đầu mang lại hiệu quả và cần được nhân rộng trên địa bàn huyện Võ Nhai.

 

Ở xã Nghinh Tường (Võ Nhai) hiện nay, hầu như ai cũng biết ông Hà Quốc Vượng, Giám đốc HTX Thịnh Vượng, bởi ông và HTX không chỉ làm giàu cho các xã viên mà còn tạo việc làm thường xuyên cho hơn 30 lao động địa phương, với mức thu nhập bình quân đạt 5 triệu đồng/người/tháng. Cùng với trên 20 xã viên, ông Vượng thành lập HTX Thịnh Vượng từ năm 2013, do ông làm Giám đốc. Đến nay, HTX đạt doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm từ trồng chuối tây Thái, nuôi đà điểu, gà đồi và đặc biệt là trồng một số cây dược liệu ưa bóng mát dưới tán rừng.

 

Năm 2013, HTX Thịnh Vượng trồng 2 nghìn cây Ba kích dưới tán rừng trên diện tích khoảng 0,5ha. Sau 4 năm, số Ba kích này cho thu hoạch đạt sản lượng gần 8 tấn với giá trị gần 2 tỷ đồng. Sau khi trừ chi phí, HTX còn lãi khoảng 1,5 tỷ đồng. Nhận thấy tiềm năng từ cây dược liệu, HTX Thịnh Vượng đã nhanh chóng phát triển lên trên 9ha trồng các cây dược liệu gồm: Ba kích, Chè Thái Nguyên hoa vàng, nghệ, hà thủ ô, cát sâm.

 

Ông Vượng chia sẻ: Đây là những cây dược liệu có giá trị kinh tế cao, dễ chăm sóc, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng các xã miền núi và đặc biệt có thể trồng dưới tán rừng, chi phí đầu tư không lớn mà đầu ra thuận lợi. Ví như cây Ba kích, trên diện tích 1 sào, người dân chỉ phải bỏ ra gần 20 triệu đồng cho 4 năm trồng là có thể đạt được lợi nhuận tới 100 triệu đồng. Hay như cây nghệ, chi phí trồng 1ha khoảng 50 triệu đồng nhưng sau 2 năm có thể thu về khoảng 100 triệu đồng lợi nhuận…

 

Còn tại xã Sảng Mộc (Võ Nhai), năm nay, xã đã phối hợp với Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện đã triển khai mô hình trồng 8 nghìn cây Khôi nhung trên nền diện tích khoảng 2ha dưới tán rừng với sự tham gia của 3 hộ dân ở các xóm Phú Cốc và Bản Chương. Loại cây này có đặc điểm ưa độ ẩm cao, thường mọc dưới tán rừng và là loại cây dược liệu quý, dùng để bào chế thuốc chữa các bệnh về dạ dày, tá Trà Thái Nguyênng. Trước kia, Khôi nhung mọc tự nhiên, phổ biến dưới tán rừng Sảng Mộc nhưng do khai thác tự do nên đã cạn kiệt.

 

Là một trong những người đưa ý tưởng phục hồi cây Khôi nhung, ông Nông Quý Dương, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Sảng Mộc cho rằng, việc tận dụng diện tích dưới tán rừng để trồng loại cây này sẽ giúp bảo tồn cây dược liệu quý, tạo nguồn nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh. Theo ông Dương, 1ha rừng có thể trồng khoảng 4 nghìn cây Khôi nhung dưới tán. Sau 1 năm trồng, diện tích này có thể cho thu hoạch khoảng 2 tấn lá khô đạt giá trị khoảng 400 triệu đồng, trong đó lợi nhuận khoảng 300 triệu đồng. “Đây có thể là mô hình giúp người dân thoát nghèo bởi chi phí đầu tư phù hợp, thời gian sinh trưởng ngắn và quan trọng là người dân vừa kết hợp việc phát dọn dây leo đồng thời trồng cây dược liệu dưới tán rừng” - ông Dương nhận định.

 

Theo các chuyên gia, thời điểm trồng cây dược liệu dưới tán rừng tốt nhất vào mùa Xuân khi thời tiết ấm, độ ẩm không khí vừa phải. Những loại cây dược liệu phù hợp sống dưới tán rừng không yêu cầu ánh sáng mạnh và không làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây lâu năm đồng thời còn thúc đẩy người dân tăng cường trách nhiệm bảo vệ rừng để phát triển kinh tế. Đây cũng là xu hướng của nhiều địa phương trong cả nước được Bộ Nông nghiệp và PTNT khuyến khích nhân rộng. Theo thống kê, Võ Nhai hiện có khoảng 60ha đất trồng cây dược liệu gồm: Đinh lăng, Hà thủ ô, Chè Thái Nguyên hoa vàng, Cát sâm, Cà gai leo, Ba kích, nghệ…. Trong đó, một phần diện tích được trồng dưới tán rừng. Sản phẩm dược liệu của Võ Nhai được một số đơn vị, doanh nghiệp bao tiêu, đảm bảo đầu ra thuận lợi với giá trị cao.

 

Tuy nhiên, so với tiềm năng của huyện đặc biệt là các xã phía Bắc có nhiều diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất thì diện tích dược liệu hiện có của Võ Nhai còn khá khiêm tốn. Ngay tại xã Nghinh Tường, sự thành công của HTX Thịnh Vượng cũng chưa thu hút được người dân. Đến nay, ngoài HTX Thịnh Vượng, mới chỉ có một gia đình ông Hà Đình Nguyễn ở xóm Bản Chang triển khai trồng 2 sào Ba kích dưới tán rừng. Diện tích này sinh trưởng tốt và hứa hẹn cho nhu nhập lên tới cả trăm triệu đồng sau 2 năm tới đây. Ông Nông Đình Tuất, Chủ tịch UBND xã Nghinh Tường chia sẻ: Việc triển khai nhân rộng mô hình này đối với địa phương là rất khó khăn bởi nguồn lực của xã hạn hẹp trong khi điều kiện kinh tế của nhân dân còn hạn chế. Chúng tôi mong muốn được huyện, tỉnh hỗ trợ mở rộng diện tích trồng, đặc biệt là giúp gần 200 hộ nghèo trên địa bàn có nguồn sinh kế vươn lên thoát nghèo.

 

Được biết, trên cơ sở xác định được tiềm năng, lợi thế trong việc phát triển cây dược liệu tại địa phương, huyện Võ Nhai đã xây dựng kế hoạch phát triển vùng dược liệu tập trung có quy mô gần 100ha, tập trung tại các xã: Cúc Đường, Nghinh Tường, Dân Tiến, Phú Thượng, Lâu Thượng, La Hiên, Phương Giao. Hy vọng rằng, với kế hoạch này, huyện sẽ sớm triển khai các giải pháp cụ thể hỗ trợ bà con nông dân mở rộng diện tích trồng cây dược liệu dưới tán rừng qua đó thiết thực bảo vệ rừng và phát triển kinh tế địa phương.

thế mạnh các địa phương đơn vị để lựa chọn xây dựng sản phẩm đặc trưng đảm bảo các tiêu chí. Ngoài sản phẩm Chè Thái Nguyên

  Thay đổi tư duy của nông dân qua chương trình sản xuất chè TháiNguyên đạt OCOP

Cập nhật ngày: 10/09/2020 08:17 (GMT +7)

 Vùng nguyên liệu để sản xuất sản phẩm Thanh Hải Trà Thái Nguyên của HTX Chè Thái Nguyên La Bằng được chăm sóc, thu hái theo quy trình VietGAP.

Vùng nguyên liệu để sản xuất sản phẩm Thanh Hải Trà Thái Nguyên của HTX Chè Thái Nguyên La Bằng được chăm sóc, thu hái theo quy trình VietGAP.

Thời gian qua, huyện Đại Từ đã tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện Chương trình “mỗi xã một sản phẩm” (OCOP), và đến nay đã đạt những kết quả bước đầu, trở thành địa phương có số lượng sản phẩm được cấp giấy chứng nhận đạt sao nhiều nhất tỉnh. Từ đây, mở ra cơ hội để người dân tham gia các chuỗi sản xuất, nâng cao giá trị nông sản.

 

Xác định Chương trình OCOP là nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, cải thiện đời sống của nông dân, từng bước tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, từ năm 2018, huyện Đại Từ đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện chương trình OCOP đến các xã, thị trấn. Để thực hiện Chương trình, sản phẩm phải đáp ứng yêu cầu của thị trường, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng, trên hết là phải đảm bảo chất lượng, quy định về an toàn đối với sức khỏe người tiêu dùng và bảo vệ môi trường. Ngoài ra, sản phẩm phải có tên, bao bì ghi nhãn, xuất xứ hàng hóa theo quy định, được niêm yết giá... Điều này buộc nhà sản xuất phải chú trọng đến chất lượng sản phẩm, quy trình sản xuất, giá trị thương hiệu.

 

Chính vì thế, cùng với việc tuyên truyền, huyện đã vận động người dân thực hiện các quy định về an toàn thực phẩm, triển khai nhiều mô hình sản xuất các sản phẩm theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ... Chỉ đạo các địa phương xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông sản chủ lực, tổ chức tập huấn về phương thức quản lý, kinh doanh, chiến lược phát triển sản phẩm cho các hợp tác xã, chủ hộ sản xuất. Ngoài ra, huyện cũng tập trung hỗ trợ các chủ thể thực hiện đăng ký sở hữu trí tuệ kiểu dáng, nhãn hiệu...

 

Trong hơn 20 sản phẩm Chè Thái Nguyên của HTX Chè Thái Nguyên La Bằng, đến nay đã có 3 sản phẩm được cấp chứng nhận đạt sao là: Thanh Hải Trà Thái Nguyên; Đinh Tâm Trà Thái Nguyên; Trà Thái Nguyên La Bằng. Bà Nguyễn Thị Hải, Chủ nhiệm HTX cho biết: Những sản phẩm này chúng tôi sản xuất từ lâu, cũng được áp dụng quy trình sản xuất an toàn, đóng gói, ghi nhãn... song chỉ là tự làm mà không được cơ quan nào đánh giá, công nhận chất lượng, nên quá trình tiêu thụ gặp khó khăn khi đưa vào các trung tâm thương mại lớn hoặc mang đi xuất khẩu. Khi huyện triển khai thực hiện Chương trình OCOP, tôi thấy đây là bước đi quan trọng để phát triển sản xuất, vì thế tôi đã tiên phong đăng ký thực hiện. Đến nay, 3 sản phẩm OCOP của HTX đã có mặt ở nhiều siêu thị lớn trong cả nước.

 

Quá trình xây dựng sản phẩm OCOP tuy có gặp khó khăn nhất định, song với suy nghĩ đây là cơ hội để quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường nên HTX Chè Thái Nguyên an toàn Sơn Thành, có địa chỉ ở xã Phú Lạc cũng đã quyết tâm thực hiện. Đồng hành với sự cố gắng của HTX là sự hỗ trợ của huyện trong quảng bá, giới thiệu sản phẩm, tạo điều kiện tối đa để sản phẩm được tham gia xúc tiến thương mại thông qua các hội chợ, triển lãm được tổ chức trong và ngoài nước. Đơn vị cũng được cán bộ huyện hướng dẫn, định hướng sản phẩm. Nhờ đó đến nay, HTX đã có 1 sản phẩm đạt 3 sao và 1 sản phẩm 4 sao. Đây là động lực để HTX hướng tới mục tiêu xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài.

 

Ngoài 2 HTX nói trên, trên địa bàn huyện hiện có 8 sản phẩm của 4 đơn vị được cấp chứng nhận đạt sao của Chương trình OCOP. Trong đó có 3 sản phẩm đạt 4 sao, 5 sản phẩm đạt 3 sao. Đồng chí Triệu Hồ Quang, Trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện cho biết: Điều đáng ghi nhận là khi được chọn tham gia Chương trình, các đơn vị đều có ý thức sản xuất ra các sản phẩm chất lượng, thay đổi hẳn tư duy làm nông nghiệp. Nếu như trước đây, người dân vẫn giữ cách thức sản xuất cũ, ít quan tâm đến xây dựng thương hiệu, thì nay đã chuyển sang sản xuất tập trung, quy mô lớn và chú trọng các khâu sản xuất hơn.

 

Có thể khẳng định, việc xây dựng sản phẩm OCOP là hướng đi đúng, bởi khi sản phẩm được các cơ quan chức năng chứng nhận về chất lượng thì người tiêu dùng sẽ yên tâm sử dụng hơn, đây được xem như một “tấm vé thông hành” để sản phẩm vào các siêu thị, trung tâm thương mại và xuất khẩu ra nước ngoài. Chính vì lẽ đó, các HTX, doanh nghiệp, hộ sản xuất đều mong muốn sản phẩm của mình được công nhận, gắn sao, qua đó khẳng định thương hiệu và tạo chỗ đứng trên thị trường.

 

Tuy nhiên, mặc dù có nhiều sản phẩm nông nghiệp được công nhận, song đến nay các sản phẩm OCOP của huyện mới chỉ gói gọn ở lĩnh vực sản xuất Chè Thái Nguyên, còn rất nhiều sản phẩm tiềm năng có thể xây dựng thành sản phẩm OCOP. Vì thế, thời gian tới, huyện sẽ tiếp tục tuyên truyền, khuyến khích các địa phương, đơn vị tham gia Chương trình. Cùng với quy hoạch thành các vùng sản xuất tập trung, huyện chỉ đạo các xã, thị trấn xem xét, nghiên cứu điều kiện, thế mạnh các địa phương đơn vị để lựa chọn xây dựng sản phẩm đặc trưng đảm bảo các tiêu chí. Ngoài sản phẩm Chè Thái Nguyên, huyện sẽ mở rộng ra các sản phẩm khác như: Tinh bột nghệ, nhãn, bưởi... Qua đó, không những khai thác được tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương, mà còn giúp nâng cao giá trị sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân.

Nói về những dự định cũng như kế hoạch trong thời gian tới

  Sản xuất Chè Thái Nguyên theo hướng hữu cơ: Hướng đi mới ở HTX Trà Thái Nguyên Cao Sơn

Cập nhật ngày: 09/09/2020 08:11 (GMT +7)

 Các thành viên HTX Trà Thái Nguyên Cao Sơn, ở xóm Khe Lim, xã Bình Sơn (T.P Sông Công) thu hái Chè Thái Nguyên chính vụ.

Các thành viên HTX Trà Thái Nguyên Cao Sơn, ở xóm Khe Lim, xã Bình Sơn (T.P Sông Công) thu hái Chè Thái Nguyên chính vụ.

Với mong muốn mang đến cho người tiêu dùng những sản phẩm Trà Thái Nguyên ngon, đảm bảo chất lượng, khoảng hơn 1 năm trở lại đây, HTX Trà Thái Nguyên Cao Sơn, ở xóm Khe Lim, xã Bình Sơn (T.P Sông Công) đã sản xuất Chè Thái Nguyên theo hướng hữu cơ. Qua đó, từng bước khẳng định thương hiệu, chỗ đứng trên thị trường.

 

Anh Lê Quang Thắng, cán bộ xã Bình Sơn chia sẻ: Vùng đất Khe Lim có truyền thống làm Chè Thái Nguyên từ nhiều đời nay. Người dân nơi đây cần cù, chịu khó, có kinh nghiệm trong sản xuất, chế biến cộng với khí hậu, thổ nhưỡng giáp vùng đất Tân Cương (T.P Thái Nguyên) nên sản phẩm Trà Thái Nguyên của bà con làm ra có vị thơm, ngon đặc trưng. Đặc biệt, hơn 1 năm nay, bà con áp dụng sản xuất Chè Thái Nguyên theo hướng hữu cơ nên càng được người tiêu dùng ưa chuộng.

 

Vừa nhanh tay hái những búp Chè Thái Nguyên xanh non, bà Lê Thị Quang, thành viên HTX Trà Thái Nguyên Cao Sơn cho hay: Gia đình tôi trồng trên 5.000m2 Chè Thái Nguyên giống LDP1. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, chúng tôi đã sản xuất, chế biến Chè Thái Nguyên theo hướng hữu cơ. Tuyệt đối không sử dụng thuốc diệt cỏ mà phun thuốc thảo mộc (được chế biến từ tỏi, ớt, …) để diệt sâu, bọ, côn trùng… hại Chè Thái Nguyên. Sử dụng đạm, lân hữu cơ thay vì vô cơ như trước đây. Lúc đầu, do chưa quen với phương thức sản xuất mới, năng suất Chè Thái Nguyên bị giảm khoảng 30%. Nhưng nay, khi áp dụng “thuần thục”, tôi thấy sản xuất Chè Thái Nguyên theo hướng hữu cơ năng suất Chè Thái Nguyên ổn định, hương vị ngon, thơm hơn. Hiện, giá Chè Thái Nguyên búp khô của gia đình tôi đang bán dao động từ 350-400 nghìn đồng/kg (cao hơn 150-200 nghìn đồng/kg so với lúc trước khi làm Chè Thái Nguyên theo hướng hữu cơ). Trừ chi phí, trung bình 1 năm, tôi thu lãi hơn 100 triệu đồng.

 

Thành lập tháng 8-2019, HTX hiện có 12 thành viên. Với 50ha Chè Thái Nguyên giống LDP1, TRI777... trong đó có 3ha Chè Thái Nguyên đang được các thành viên của HTX sản xuất theo hướng hữu cơ. Chia sẻ về quyết định tìm hướng đi mới cho HTX, anh Phạm Văn Tiến, Giám đốc HTX cho biết: Người tiêu dùng ngày càng kỹ tính hơn trong việc lựa chọn các sản phẩm Trà Thái Nguyên, vì thế tôi luôn đau đáu làm sao để sản xuất ra sản phẩm Trà Thái Nguyên đảm bảo chất lượng, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, được thị trường đón nhận. Bởi vậy, ngay sau khi thành lập HTX, chúng tôi bắt tay ngay vào sản xuất Chè Thái Nguyên theo hướng hữu cơ. Trong đó, yêu cầu các thành viên tuân thủ nghiêm ngặt quy trình sản xuất Chè Thái Nguyên (không sử dụng thuốc diệt cỏ; chỉ sử dụng đạm, lân hữu cơ, phân chuồng ủ mục; sử dụng thuốc thảo mộc để diệt sâu, bọ, côn trùng; sử dụng nguồn nước sạch để tưới cho cây…). Trong quá trình sản xuất, chúng tôi thường xuyên kiểm soát chất lượng sản phẩm.

 

Đến nay, sản phẩm Trà Thái Nguyên của HTX Trà Thái Nguyên Cao Sơn đã đăng ký nhãn hiệu bảo hộ sản phẩm; có mã vạch để truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Hiện, HTX đang hoàn thiện hồ sơ để tham gia thi chứng nhận OCOP (mỗi xã, phường một sản phẩm) của tỉnh. Hiện, thu nhập bình quân của các thành viên trong HTX đạt hơn 50 triệu đồng/người/năm (cao hơn 15 triệu đồng so với năm 2017).

 

Nói về những dự định cũng như kế hoạch trong thời gian tới, anh Phạm Văn Tiến cho biết thêm: Chúng tôi sẽ tiếp tục tạo điều kiện cho các thành viên của HTX tham gia các lớp tập huấn về sản xuất Chè Thái Nguyên hữu cơ do tỉnh, Thành phố tổ chức để các thành viên đáp ứng các tiêu chí trong sản xuất Chè Thái Nguyên hữu cơ; tích cực tham gia các kỳ hội chợ nhằm quảng bá sản phẩm tới người dân trong và ngoài tỉnh; mở cửa hàng giới thiệu sản phẩm tại Trung tâm T.P Sông Công; xây dựng khu chế biến tập trung (rộng khoảng 1.000m2) vừa phục vụ chế biến Chè Thái Nguyên vừa để khách tham quan trải nghiệm làm Chè Thái Nguyên… Qua đó, tiếp tục khẳng định thương hiệu, quảng bá Trà Thái Nguyên Cao Sơn để người tiêu dùng đến và đón nhận sản phẩm nhiều hơn.

thực hiện sản xuất Chè Thái Nguyên theo tiêu chuẩn VietGap

 Có một Phú Đình không lặng lẽ nơi vùng chè Thái Nguyên đang phát triển

Cập nhật ngày: 20/08/2020 08:08 (GMT +7)

 Người dân làn nghề Chè Thái Nguyên xóm Duyên Phú 3, xã Phú Đình (Định Hóa) thu hái Chè Thái Nguyên sản xuất theo quy trình VietGAP. Ảnh: NN

Người dân làn nghề Chè Thái Nguyên xóm Duyên Phú 3, xã Phú Đình (Định Hóa) thu hái Chè Thái Nguyên sản xuất theo quy trình VietGAP. Ảnh: NN

Đến huyện Định Hóa, nói chuyện về quê hương Phú Đình, ai cũng nhắc ngay tới những di tích lịch sử gắn bó với các sự kiện quan trọng của đất nước thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhưng còn có một Phú Đình bấy nay tần tảo, đoàn kết vươn lên phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, tạo dựng nên diện mạo mới cho các làng bản bao bọc những di sản Quốc gia. - Ông Ma Doãn Thành, Phó Chủ tịch UBND xã Phú Đình nói với chúng tôi bằng cả niềm tự hào.

 

Xã Phú Đình hiện có hơn 1.500 hộ, hơn 6.100 nhân khẩu, hiện trong xã không còn hộ ở nhà dột nát; 81,5% hộ có nhà ở đạt chuẩn theo quy định của Bộ Xây dựng; thu nhập bình quân đạt 32,1 triệu đồng/người/ năm; 100% số xóm xây dựng đươc nhà văn hóa; số hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa năm 2019 là 1.337 hộ.

 

Để có được những kết quả đó, với Phú Đình thì đó là một quá trình nỗ lực vươn lên, bởi đời sống kinh tế của người dân chủ yếu trông vào sản xuất nông, lâm nghiệp. Do địa hình phức tạp, có nhiều đồi núi dốc, trong tổng số 3.100 ha đất tự nhiên của xã, đất sản xuất chiếm hơn 2.100 ha nhưng đã có gần 470 ha đất rừng sản xuất; hơn 19 ha đất rừng đặc dụng do người dân quản lý.

 

Nhiều năm qua, cây Chè Thái Nguyên được xác định là cây trồng thế mạnh trong phát triển kinh tế của Phú Đình. Hiện toàn xã có 223 ha Chè Thái Nguyên, trong đó gần 70% diện tích Chè Thái Nguyên già cỗi đã được chuyển đổi sang trồng Chè Thái Nguyên cành giống mới như LDP1, TRI777, Phúc Vân Tiên. Do Chè Thái Nguyên được chăm bón đúng kỹ thuật, năng suất đạt hơn 110 tạ Chè Thái Nguyên búp tươi/ha; sản lượng đạt trên 2.327 tấn. Mỗi năm, cây Chè Thái Nguyên mang lại cho người Phú Đình hơn 84 tỷ đồng.

 

Chúng tôi gặp ông Hoàng Văn Thành cùng gần chục nông dân khác đang thu hái Chè Thái Nguyên trên đồi Chè Thái Nguyên thuộc thôn Duyên Phú. Ông Thành cho biết: Từ nhiều năm trở lại đây, người dân được tham gia các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật về trồng, chế biến Chè Thái Nguyên; được đến các vùng Chè Thái Nguyên Tân Cương (T.P Thái Nguyên), La Bằng (Đại Từ) và một số vùng Chè Thái Nguyên khác của tỉnh để tham quan mô hình, trao đổi, học tập kinh nghiệm, qua đó trình độ sản xuất, chế biến Chè Thái Nguyên của bà con được nâng cao, giá thành sản phẩm tăng từ 60.000 đồng/kg năm 2015 lên mức 200.000 đồng/kg hiện nay.

 

Xác định được giá trị kinh tế từ cây Chè Thái Nguyên mang lại nên hầu hết các hộ dân trong vùng đã phá bỏ cây vườn tạp cho thu nhập thấp để chuyển đất sang trồng Chè Thái Nguyên. Chia sẻ khó khăn với nông dân, 5 năm gần đây đã có hàng trăm lượt hộ nghèo được hỗ trợ hom Chè Thái Nguyên giống để trồng mới hoặc trồng thay thế. Bình quân 15 ha/năm. Hiện trên địa bàn xã đã có 5 làng nghề Chè Thái Nguyên truyền thống và 2 hợp tác xã Chè Thái Nguyên hoạt động có hiệu quả. Để xây dựng thương hiệu sản phẩm, chính quyền địa phương đã vận động hộ trồng Chè Thái Nguyên tích cực tham gia trưng bày, quảng bá sản phẩm tại các hội chợ, triển lãm hàng nông thôn tiêu biểu của huyện và tỉnh. Đồng thời, vận động hộ trồng Chè Thái Nguyên tham gia sản xuất theo quy trình VietGAP, làm ra sản phẩm Chè Thái Nguyên an toàn bán cho nhân dân, du khách và vận động một số hộ có nương Chè Thái Nguyên đẹp xây dựng thành điểm tham quan du lịch.

 

Để hiểu thêm về đời sống kinh tế của người dân Phú Đình, chúng tôi đến thôn Đồng Ban, vào thăm khu chợ thương mại của xã. Chợ được hoàn thiện vào tháng 5-2019, với tổng diện tích 5.500m2, đạt chuẩn tiêu chí nông thôn mới. Trong chợ bày bán nhiều các mặt hàng nông, lâm sản, nhưng nhiều nhất, sôi động nhất vẫn là Chè Thái Nguyên búp khô. Bà Ma Thị Liên, một trong những hộ làm Chè Thái Nguyên có uy tín ở xóm Duyên Phú chia sẻ: Nông dân chúng tôi nhà nào cũng có ruộng, nương. Nhưng ruộng chỉ đủ lấy gạo ăn; nương tre, vầu lấy được ít măng bán đổi muối, còn tiền mua áo mới, đóng học cho con trẻm, tiền xây nhà, mua xe máy, ti vi đều từ cây Chè Thái Nguyên mà ra.

 

Người Phú Đình tạo dựng được diện mạo mới trên vùng đất mình sống, là bởi người dân có truyền thống đoàn kết, biết phát huy nội lực và biết thay đổi tư duy sản xuất theo hướng hàng hóa, tăng thu nhập. Ngày nay, các vùng sản xuất hàng hóa nông sản như Chè Thái Nguyên, lúa đặc sản hình thành trên quê hương cách mạng. Đặc biệt tại các làng nghề Chè Thái Nguyên truyền thống ở 2 xóm Duyên Phú và 3 xóm Phú Ninh, thu nhập của người làm Chè Thái Nguyên đạt từ 5,5 đến gần 8 triệu đồng/người/tháng.

 

Tại các xóm Đèo De, Đồng Giắng, Nạ Mùi, Đồng Chấn… bà con đã đưa cây quế vào trồng thay thế cây vườn tạp. Tuy chưa đến kỳ thu hoạch, nhưng hương quế quyện cùng hương Chè Thái Nguyên, hương lúa thoảng thơm giữa nắng trời tháng Tám, gợi ký ức bao người nhớ về miền đất mang nặng sử xanh và đang lặng lẽ đi lên.

 

Đồng Hỷ: Phấn đấu trồng mới và trồng thay thế 150ha Chè Thái Nguyên

Cập nhật ngày: 21/08/2020 08:53 (GMT +7)

 Công nhân chăm sóc cây giống tại vườn ươm ở xóm Sơn Cầu, xã Hóa Thượng.

Công nhân chăm sóc cây giống tại vườn ươm ở xóm Sơn Cầu, xã Hóa Thượng.

Năm 2020, huyện Đồng Hỷ có kế hoạch trồng 150ha Chè Thái Nguyên, trong đó trồng mới là 50ha, trồng lại 100ha, tập trung tại một số xã: Văn Hán (26ha), Minh Lập (20ha), Văn Lăng (20ha)...

 

Để đạt được kế hoạch đề ra, ngay từ đầu năm, huyện đã chỉ đạo các phòng chuyên môn phối hợp với các xã, thị trấn đôn đốc người dân đăng ký cây giống, nộp tiền đối ứng; tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Chè Thái Nguyên giống cho bà con. Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện cũng đôn đốc chủ các vườn ươm tập trung chăm sóc cây giống đảm bảo đủ số lượng, chất lượng để cung cấp cho người dân trong tháng 9 tới. Được biết, gần 300 vạn cây giống (chủ yếu là giống LDP1 và TRI 777) tại 2 vườn ươm trên địa bàn huyện đang sinh trưởng, phát triển tốt. Chiều cao cây đã đạt từ 20-25cm, đường kính thân đạt từ 3-4mm. Hiện nay, 50% tổng số cây giống đã đủ điều kiện xuất vườn.

 

Năm nay, người dân trồng mới và trồng lại Chè Thái Nguyên vẫn được tỉnh, huyện hỗ trợ 80% giá cây giống, còn lại 20% bà con đóng góp đối ứng.

 

Đại Từ: Trồng mới, trồng thay thế 1.500ha Chè Thái Nguyên

Cập nhật ngày: 23/08/2020 08:41 (GMT +7)

 Người dân xóm Đồng Đình, xã La Bằng (Đại Từ) thu hái Chè Thái Nguyên giống mới LDP1

Người dân xóm Đồng Đình, xã La Bằng (Đại Từ) thu hái Chè Thái Nguyên giống mới LDP1

Là địa phương có diện tích Chè Thái Nguyên lớn nhất tỉnh với 6.337ha Chè Thái Nguyên các loại, những năm gần đây, huyện Đại Từ đã đẩy mạnh việc hỗ trợ, khuyến khích người dân đưa những giống Chè Thái Nguyên mới có năng, chất lượng cao vào sản xuất nhằm nâng cao giá trị sản phẩm Chè Thái Nguyên của địa phương. Theo đó, từ năm 2015 đến nay, toàn huyện đã trồng mới, trồng thay thế được 1.500ha Chè Thái Nguyên già cỗi, kém chất lượng bằng các loại Chè Thái Nguyên giống mới như: LDP1, Phúc Vân Tiên, Long Vân, Kim Tuyên…

 

Nhờ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu giống Chè Thái Nguyên, đến nay, toàn huyện đã có trên 4.900ha Chè Thái Nguyên giống mới, chiếm 77,4% tổng diện tích Chè Thái Nguyên của huyện. Theo đánh giá, các giống Chè Thái Nguyên mới cho năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao hơn hẳn so với giống Chè Thái Nguyên trung du trước đây. Nếu như chè trung du chỉ cho năng suất bình quân khoảng 70 - 80 tạ/ha thì năng suất bình quân của chè giống mới đạt từ 110 - 130 tạ/ha. Đặc biệt, giống chè LDP1 có thể cho năng suất đạt tới 150 - 160 tạ/ha. Hiện nay, các giống Chè Thái Nguyên mới đã góp phần đưa năng suất Chè Thái Nguyên bình quân của huyện đạt 120 tạ/ha, tăng 12,4 tạ/ha so với năm 2015; sản lượng Chè Thái Nguyên búp tươi của huyện đạt 70.100 tấn, tăng 11.000 tấn so với năm 2015...

 

Bên cạnh chuyển đổi cơ cấu giống, huyện Đại Từ còn khuyến khích người dân mở rộng sản xuất Chè Thái Nguyên theo quy trình VietGAP. Hiện nay, toàn huyện có 730ha Chè Thái Nguyên được cấp giấy chứng nhận VietGAP, chiếm 11,53% tổng diện tích Chè Thái Nguyên toàn huyện.

 

T.P Sông Công: Lựa chọn các sản phẩm Trà Thái Nguyên tham gia dự thi OCOP

Cập nhật ngày: 31/08/2020 14:36 (GMT +7)

Thực hiện Chương trình xây dựng mỗi xã, phường một sản phẩm, T.P Sông Công đã lựa chọn một số sản phẩm có thế mạnh của địa phương để định hướng phát triển sản xuất theo mô hình OCOP.

 

Các sản phẩm gồm: Sản phẩm Chè Thái Nguyên Huy Cúc (phường Thắng Lợi); Trà Thái Nguyên hữu cơ của Hợp tác xã (HTX) Chè Thái Nguyên Cao Sơn, mô hình cá lăng hồ Ghềnh Chè Thái Nguyên (xã Bình Sơn); mô hình bưởi Diễn xã Tân Quang; mô hình Chè Thái Nguyên xanh của HTX Chè Thái Nguyên Bá Xuyên; mô hình cá thịt hồ Lúc Nác (phường Châu Sơn); mô hình sản xuất rau theo kỹ thuật công nghệ cao (phường Cải Đan); mô hình thịt lợn hữu cơ của HTX Chăn nuôi xanh (phường Lương Sơn)… Trong đó, sản phẩm Trà Thái Nguyên của Công ty TNHH Huy Cúc đã được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao năm 2019.

 

Hiện, Thành phố đang hỗ trợ HTX Chè Thái Nguyên Cao Sơn, Công ty TNHH Thúy Vân (phường Châu Sơn) hoàn thiện hồ sơ để đưa các sản phẩm Trà Thái Nguyên tham gia dự thi OCOP của tỉnh.

 

Hỗ trợ 66ha Chè Thái Nguyên sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap

Cập nhật ngày: 31/08/2020 14:39 (GMT +7)

 Các đại biểu tham quan mô hình sản xuất Chè Thái Nguyên an toàn tại xóm Phả Lý, xã Văn Hán (Đồng Hỷ).

Các đại biểu tham quan mô hình sản xuất Chè Thái Nguyên an toàn tại xóm Phả Lý, xã Văn Hán (Đồng Hỷ).

Với mục tiêu nâng cao giá trị sản phẩm Chè Thái Nguyên, Trung tâm Khuyến nông tỉnh phối hợp với huyện Đồng Hỷ triển khai Dự án sản xuất Chè Thái Nguyên xanh an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP trên diện tích Chè Thái Nguyên kinh doanh tại xóm Phả Lý, xã Văn Hán.

 

Dự án có quy mô 66ha, được thực hiện trong 3 năm, từ năm 2020-2022 (22ha/năm), với 87 hộ dân tham gia. Người dân tham gia mô hình ngoài được hỗ trợ 70% giá trị phân bón, thuốc bảo vệ thực vật còn được hỗ trợ 100% kinh phí tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, thực hiện sản xuất Chè Thái Nguyên theo tiêu chuẩn VietGap, cấp giấy chứng nhận sản phẩm khi đạt tiêu chuẩn... Hiện nay, bà con đang được tập huấn khoa học kỹ thuật, thời gian tới sẽ được cấp phân bón để thực hiện chăm sóc diện tích Chè Thái Nguyên theo quy trình. 

 

Việc triển khai mô hình sẽ khuyến khích bà con mở rộng diện tích Chè Thái Nguyên an toàn theo tiêu chuẩn VietGap, từ đó, tạo ra sản phẩm Chè Thái Nguyên có năng suất, chất lượng cao, đảm bảo an toàn cho cả người sản xuất và người tiêu dùng.

Để tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình XDNTM

  Áp dụng giải pháp truy xuất nguồn gốc cho nông sản chè Thái Nguyên 2020

Cập nhật ngày: 06/08/2020 08:04 (GMT +7)

 Mô hình truy xuất nguồn gốc Chè Thái Nguyên hữu cơ sinh học của chị Vũ Thị Vương ở xóm Chiến Thắng, xã Bình Long được triển khai từ đầu năm 2020 và hiện sản phẩm đang được tiêu thụ tại một số thành phố lớn.

Mô hình truy xuất nguồn gốc Chè Thái Nguyên hữu cơ sinh học của chị Vũ Thị Vương ở xóm Chiến Thắng, xã Bình Long được triển khai từ đầu năm 2020 và hiện sản phẩm đang được tiêu thụ tại một số thành phố lớn.

Truy xuất nguồn gốc là giải pháp minh bạch quy trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm giúp người tiêu dùng dễ dàng đánh giá chất lượng từ đó nâng cao giá trị, tính bền vững cho sản phẩm. Giải pháp này đang được huyện Võ Nhai hỗ trợ bà con nông dân triển khai trên nhiều sản phẩm nông sản sạch, nông sản an toàn.

 

Chỉ khoảng 2 đến 3 tuần tới đây, sản phẩm na La Hiên sẽ chính thức vào mùa. Bà con nông dân nơi đây đang chuẩn bị cho một vụ thu hái đầy hứa hẹn. Đặc biệt, năm nay, lần đầu tiên xã La Hiên có 40ha na VietGAP với sản lượng ước đạt gần 700 tấn bán ra thị trường được dán tem truy xuất nguồn gốc chứa đầy đủ thông tin về nguồn gốc cây trồng, quy trình sản xuất, tiến trình chăm bón, thu hái và thông tin cụ thể về hộ sản xuất cũng như chỉ dẫn địa lý thương hiệu. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh đi kèm phần mềm quét tem mã hoá dán trên mỗi sản phẩm, người dùng có thể biết được toàn bộ thông tin.

 

Ông Trần Văn Cử, Chủ tịch UBND xã La Hiên cho biết: Từ năm 2019, xã La Hiên đã xây dựng thành công 40ha trồng na đạt tiêu chuẩn VietGAP thuộc các xóm: Hiên Minh, Xuân Hòa, Hiên Bình và La Đồng. Xã cử cán bộ thường xuyên phối hợp với bộ phận chuyên trách của Sở Khoa học & Công nghệ hướng dẫn, thống kê toàn bộ quy trình sản xuất, tiến trình chăm sóc, thu hái của các hộ dân trồng na VietGAP. Dữ liệu này được cập nhật thường xuyên vào cơ sở dữ liệu điện tử để phục vụ người tiêu dùng truy xuất nguồn gốc của sản phẩm bán ra sau này.

 

Bà Chu Thị Quy, Tổ trưởng Tổ VietGAP xóm Hiên Minh (La Hiên) cho biết: Toàn bộ 54 thành viên trong tổ chúng tôi đều thống nhất cao và tuân thủ tuyệt đối quy trình sản xuất theo VietGAP nên việc báo cáo nhật trình chăm bón, thu hái để xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm là rất thuận lợi. Chúng tôi hy vọng sẽ tạo niềm tin cho người tiêu dùng vào sản phẩm na an toàn do chúng tôi sản xuất.

 

Dù chưa phổ biến nhưng câu chuyện áp dụng truy xuất nguồn gốc cũng không còn xa lạ với nông dân Võ Nhai. Năm 2019, Văn phòng điều phối Chương trình xây dựng Nông thôn mới, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện đã tuyên truyền, kết nối người sản xuất nông sản với các ngành chức năng, tổ chức kinh tế để hình thành một số mô hình sản xuất nông sản sạch, nông sản an toàn gắn liền với minh bạch quy trình, tiến trình sản xuất qua giải pháp truy xuất nguồn gốc. Trong đó, mô hình tiên phong là: Mô hình truy xuất nguồn gốc Chè Thái Nguyên hữu cơ sinh học của chị Vũ Thị Vương ở xóm Chiến Thắng, xã Bình Long; Mô hình truy xuất nguồn gốc sản phẩm bưởi Trà Thái Nguyênng Xá của của HTX Nông nghiệp sạch Chè Thái Nguyên Xá.

 

Riêng HTX Nông nghiệp sạch Trà Thái Nguyênng Xá từ cuối năm 2019 đã xuất bán 5.000 quả bưởi an toàn được thí điểm dán tem truy xuất nguồn gốc. Dù chưa có đầy đủ thông tin về tiến trình chăm sóc, nhưng những thông tin về chỉ dẫn địa lý, nguồn gốc sản phẩm và quy trình sản xuất cũng đã giúp bưởi Trà Thái Nguyênng Xá tạo được uy tín trên thị trường. Anh Hoàng Ngọc Vũ, Giám đốc HTX Nông nghiệp sạch Trà Thái Nguyênng Xá chia sẻ: Tiếp nối thành công của quả bưởi, năm nay, HTX tiếp tục thực hiện truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm Chè Thái Nguyên và mật ong. Với sự giúp đỡ của chuyên môn của huyện, chúng tôi đã triển khai cho các các thành viên nòng cốt của HTX cập nhật thường xuyên tiến trình sản xuất nhằm minh bạch dữ liệu cho từng sản phẩm.

 

Trao đổi với chúng tôi, ông Nông Minh Tuấn, Phó Chánh văn phòng điều phối Chương trình xây dựng Nông thôn mới, Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Võ Nhai cho biết: Tới đây, huyện sẽ đẩy mạnh và mở rộng hơn nữa việc ứng dụng truy xuất nguồn gốc nông sản trên địa bàn và hoàn thiện đề án xây dựng cổng thông tin điện tử kết nối cung cầu sản phẩm nông nghiệp huyện Võ Nhai, hướng tới liên kết sản xuất, truy xuất nguồn gốc sản phẩm giai đoạn 2020-2025. Khi đi vào hoạt động, đây sẽ là nơi lưu trữ chung đối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn qua đó hỗ trợ tích cực cho người nông dân tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp.

 

"Bức tranh" nông thôn bừng sáng

Cập nhật ngày: 18/08/2020 08:27 (GMT +7)

 100% tuyến đường liên xã, trục xã ở Khe Mo đã được bê tông, tạo điều kiện thuận lợi trong việc đi lại, vận chuyển nông sản của người dân địa phương.

100% tuyến đường liên xã, trục xã ở Khe Mo đã được bê tông, tạo điều kiện thuận lợi trong việc đi lại, vận chuyển nông sản của người dân địa phương.

Những ai đã từng đặt chân đến huyện Đồng Hỷ 5 năm về trước, giờ đây khi trở lại sẽ không khỏi ngạc nhiên bởi sự đổi thay của vùng đất này. Đường làng, ngõ xóm sạch đẹp; trường học, trạm y tế được xây dựng khang trang; đời sống của người dân ngày càng no ấm... Đó là kết quả sau nhiều năm nỗ lực thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Đồng Hỷ.

 

Nỗ lực tạo bứt phá trong nhiệm kỳ mới

Nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng bộ huyện Đồng Hỷ đề ra chỉ tiêu xây dựng 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 3 xã nông thôn mới nâng cao và 1 xã nông thôn mới kiểu mẫu. Phấn đấu huyện Đồng Hỷ trở thành huyện nông thôn mới.

Xã Nam Hòa là một trong những xã đặc biệt khó khăn của huyện Đồng Hỷ đã “cán đích” chương trình xây dựng nông thôn mới (XDNTM) vào năm 2019. Ông Nguyễn Quang Hùng, Bí thư Đảng ủy xã Nam Hòa cho biết: Để thực hiện chương trình XDNTM, xã đã có những biện pháp, việc làm cụ thể. Cấp ủy, chính quyền xã đã tuyên truyền, quán triệt và triển khai tới cán bộ, đảng viên và nhân dân đầy đủ mục đích, ý nghĩa của chương trình, giúp người dân hiểu quyền lợi và trách nhiệm của họ khi tham gia XDNTM. Do đó, địa phương đã nhận được sự đồng thuận của người dân trong việc tham gia hiến đất làm các công trình cơ sở hạ tầng, đóng góp đối ứng, tích cực chuyển đổi cây trồng, vật nuôi để nâng cao thu nhập và thực hiện các tiêu chí khác của chương trình. Việc được công nhận đạt chuẩn NTM, đánh dấu sự chuyển mình của vùng quê vốn nhiều năm liền phải nhận hỗ trợ từ Chương trình 135.

 

 

Không chỉ riêng xã Nam Hòa, “bức tranh”  nông thôn mới ở nhiều vùng quê khác trên địa bàn huyện Đồng Hỷ giờ đây cũng đã được “vẽ” lại với những gam màu tươi sáng, đặc biệt là ở những xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trò chuyện với nhiều người dân ở các xã, chúng tôi cảm nhận được sự phấn khởi của bà con khi đời sống của họ ngày càng được nâng lên, diện mạo quê hương ngày càng khởi sắc.

 

Bà Ngô Thị Sinh, người dân tộc Mông ở xóm Vân Lăng, xã Văn Lăng cho biết: Trước kia đường giao thông ở xóm toàn đá dăm, đá hộc, đi lại khó khăn, tham gia chương trình XDNTM, bà con đã hiến đất làm đường bê tông. Bây giờ, ô tô vào được đến cuối xóm, cứ đến vụ thu hoạch ngô là có người vào tận nơi thu mua, bà con không phải thồ ngựa đi bán như trước kia nữa.

 

Huyện Đồng Hỷ có 13 xã thực hiện chương trình XDNTM, trong giai đoạn 2015-2020, huyện đã quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả chương trình này. Theo đó, huyện đã thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện chương trình XDNTM và phân công nhiệm vụ theo từng lĩnh vực cụ thể cho các thành viên; ban hành các nghị quyết, kế hoạch thực hiện chương trình; tăng cường kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện tại các xã; huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc... Từ năm 2015 đến nay, tổng nguồn vốn huy động để XDNTM của huyện là trên 1.300 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách huyện hơn 306 tỷ đồng; vốn huy động từ nhân dân là gần 465 tỷ đồng, còn lại là các nguồn vốn khác. Toàn huyện hiện có 11/13 xã đạt chuẩn NTM, bằng 122% Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIV đề ra, số xã đạt các tiêu chí tăng nhiều so với 2015. Cụ thể, về tiêu chí giao thông hiện có 12 xã đạt (tăng 9 xã); về tiêu chí giáo dục có 100% xã đạt (tăng 5 xã); về tiêu chí thu nhập có 11 xã đạt (tăng 4 xã); về tiêu chí hộ nghèo có 11 xã đạt (tăng 6 xã); về tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa có 12 xã đạt (tăng 10 xã); về tiêu chí môi trường có 11 xã đạt (tăng 9 xã)...

 

Để tiếp tục thực hiện hiệu quả chương trình XDNTM, giai đoạn 2020-2025 huyện Đồng Hỷ đề ra mục tiêu tổng quát là: XDNTM để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ, gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững.

Mô hình sản xuất lúa nếp thầu dầu theo hướng hữu cơ tại xã Úc Kỳ, huyện Phú Bình

  Vùng chè Thái Nguyên: Đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững

 THẢO NGUYÊN

07:04 17/09/2020

Theo thống kê mới nhất của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Nguyên, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2016 - 2020 đã giảm đáng kể từ 13,4% (năm 2016) xuống còn khoảng 3,1% vào cuối năm 2020, bình quân giảm 2,06%/năm, vượt chỉ tiêu đề ra.

Một gia đình ở xóm Chùa, xã Bình Long, huyện Võ Nhai được nhận hỗ trợ từ mô hình nhân rộng nuôi bò cái sinh sản.

Một gia đình ở xóm Chùa, xã Bình Long, huyện Võ Nhai được nhận hỗ trợ từ mô hình nhân rộng nuôi bò cái sinh sản.

Trong gần 5 năm qua, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Thái Nguyên đã cho hơn  51.000 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo được vay vốn ưu đãi với tổng kinh phí cho vay trên 2.200 tỷ đồng, trong đó hơn 26.400 lượt hộ nghèo vay trên 1.000 tỷ đồng, gần 18.000 lượt hộ cận nghèo vay 785 tỷ đồng, hơn 7.000 hộ mới thoát nghèo vay 346 tỷ đồng để xây dựng các mô hình phát triển kinh tế mới, ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, mua con giống, cây giống, phương tiện hỗ trợ sản xuất nhằm từng bước vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống.

 

Thái Nguyên còn thực hiện tốt nhiều chính sách hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo như: 100% người nghèo, người thuộc hộ cận nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế, trong đó tỉnh hỗ trợ thêm 30% mức đóng bảo hiểm y tế cho người hộ cận nghèo, nâng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế dự kiến năm 2020 đạt 98,5%; miễn giảm học phí cho 185.905 học sinh, sinh viên, người dân tộc thiểu số và người nghèo với kinh phí trên 49 tỷ đồng; trợ cấp xã hội cho hơn 156.000 học sinh vùng khó khăn với kinh phí trên 42.000 tỷ đồng; hỗ trợ về nhà ở cho hơn 3.500 hộ nghèo; tạo việc làm mới cho hơn 21.000 lao động nông thôn, vùng sâu, vùng xã, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh năm 2020 ước đạt 70%.

 

Ngoài các cơ chế, chính sách, dự án hỗ trợ giảm nghèo theo quy định của Chính phủ, xuất phát từ tình hình thực tiễn địa phương, tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng Đề án “Phát triển kinh tế - xã hội, ổn định sản xuất và đời sống các xóm, bản đặc biệt khó khăn có nhiều đồng bào dân tộc Mông sinh sống” tại 4 huyện: Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Phú Lương. Nhờ vậy, trong 5 năm qua, gần 7.000 lượt hộ đồng bào dân tộc Mông đã được hỗ trợ giống, phân bón trồng ngô lai trên tổng diện tích hơn 3.100 ha với kinh phí ngân sách hỗ trợ gần 15 tỷ đồng.

 

Tỉnh trích ngân sách đầu tư hỗ trợ xây dựng 15 tuyến đường vào các xóm bản đặc biệt khó khăn có nhiều đồng bào dân tộc Mông sinh sống với tổng chiều dài 42,7 km, kinh phí 64,5 tỷ đồng; triển khai xây dựng 15 công trình lớp học, 3 công trình nhà văn hóa, 11 công trình điện lưới quốc gia, 2 công trình nước sinh hoạt tập trung bằng nguồn vốn lồng ghép các chương trình, dự án, chính sách, trong đó kinh phí ngân sách tỉnh hỗ trợ là 15,62 tỷ đồng.

 

Bên cạnh đó, Thái Nguyên đã triển khai dự án xóa “trắng điện” tại 34 xóm, bản chưa có điện lưới quốc gia trên địa bàn huyện Võ Nhai và 14 xóm của huyện Đồng Hỷ.... giúp các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn có điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội, các hộ nghèo nâng cao thu nhập, thoát nghèo, góp phần đảm bảo công tác an sinh xã hội trên địa bàn...

 

Theo Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thái Nguyên Nguyễn Thị Quỳnh Hương, trong giai đoạn đến năm 2025, để nâng cao hiệu quả Chương trình giảm nghèo bền vững, tỉnh đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với giảm nghèo bền vững, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn đặc biệt khó khăn; cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các xã nghèo ở các huyện Võ Nhai, Định Hóa, Đồng Hỷ. Đồng thời, tỉnh huy động các nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tại các xã nghèo, tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới..

 

Khuyên nông Thái Nguyên góp sức xây dựng nông thôn mới

10:00 - Thứ tư, 16/09/2020

KTNT Thành công trong xây dựng nông thôn mới của Thái Nguyên hôm nay là nhờ có sự chung sức đồng lòng của cả Hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân, sự đóng góp tích cực của các sở, ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh.

 

QR Code Quét mã QR để xem trên mobile

Thái Nguyên: Chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn

TP. Thái Nguyên: Điểm sáng trong xây dựng sản phẩm OCOP

Thái Nguyên phát triển cây ăn quả chất lượng cao

Thủ tướng: Thu hút nhà đầu tư để đưa Chè Thái Nguyên Thái Nguyên vươn xa

Trung tâm Khuyến nông Thái Nguyên trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, được thành lập theo Quyết định 2539/QĐ-UBND ngày 16/8/2019 của UBND tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở sát nhập Ban Quản lý dự án Phát triển Chè Thái Nguyên vào Trung tâm Khuyến nông.

 

01.JPG

Hội nghị triển khai Mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn hữu cơ Việt Nam (TCVN11041), tại xã Phú Xuyên, huyện Đại Từ

Các mô hình hiệu quả

 

Ông Nguyễn Đình Thông, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Thái Nguyên chia sẻ: Hàng năm, căn cứ vào sự chỉ đạo của Sở Nông nghiệp và PTNT, trung tâm tiến hành xây dựng chương trình công tác bám sát vào mục tiêu, định hướng phát triển của ngành; các chương trình, mô hình chủ yếu là áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới như: sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất an toàn theo VietGAP…

 

Năm 2019, trung tâm đã triển khai, thực hiện thành công và có hiệu quả 05 dự án khuyến nông bằng nguồn vốn Trung ương, 01 dự án khuyến nông bằng nguồn vốn nông thôn mới, 14 mô hình khuyến nông, 01 chương trình hỗ trợ tem truy xuất nguồn gốc nông sản rau, quả, lúa, Chè Thái Nguyên và chương trình trồng cây phân tán bằng nguồn ngân sách của tỉnh; một số mô hình đã phát huy rất hiệu quả, thể hiện được nhiều ưu điểm, được người dân đánh giá cao và tích tham gia áp dụng.

 

Nhằm đối phó với tình hình thời tiết diễn biến bất thường, thời gian qua, trung tâm đã triển khai mô hình trồng giống dưa lê an toàn sinh học trong nhà kính. Qua thời gian khảo nghiệm cho thấy, trong điều kiện nhà kính, dưa lê có tỉ lệ cây sống tới 100%, cho quả đạt 98%; áp dụng phương pháp an toàn sinh học đều sinh trưởng và phát triển tốt. Theo một cán bộ phụ trách kỹ thuật của trung tâm: “Trồng dưa lê trong nhà kính, chúng ta quản lý được dinh dưỡng, quản lý được khả năng phát triển tạo quả; dễ dàng xử lý được độ lớn của quả và thời gian thu hoạch”.

 

02.JPG

Mô hình trồng dưa lê Ngân Huy và Gia Huy hữu cơ  tại xóm Cầu Đá, xã Thịnh Đức, TP. Thái Nguyên

Một trong những mô hình hiệu quả trong việc sử dụng đất đó là trồng cây ba kích xen canh đồi rừng đã được trung tâm triển khai, đang phát huy tốt ở TP. Sông Công. Gia đình anh Nguyễn Văn Chỉnh (xóm Vinh Quang 2, xã Vinh Sơn, TP. Sông Công) là một trong 18 hộ tham gia mô hình này, với tổng diện tích 5 ha. Anh Chỉnh chia sẻ: “Mình trồng ba kích thấy phát triển tốt, đạt thu nhập cao hơn nhiều lần so với trồng keo nên mình sẽ chuyển hướng mạnh sang trồng ba kích trong thời gian tới”.

 

Xây dựng các vùng nông sản hàng hóa

 

Những năm qua, Khuyến nông Thái Nguyên đã triển khai một số dự án sản xuất nông nghiệp theo hương hữu cơ, như mô hình Chè Thái Nguyên hữu cơ với quy mô từ 5 – 20ha ở các địa phương: Đồng Hỷ (20 ha), Phú Lương (15 ha), Đại Từ (15 ha), TP. Sông Công và TP. Thái Nguyên mỗi đơn vị có 5 ha. Để thực hiện tốt dự án này, trung tâm đã tổ chức tập huấn được 06 lớp, với 300 hộ tham gia; tiến hành cấp vật tư (phân bón hữu cơ vi sinh, thuốc BVTV sinh học, phân chuồng ủ mục, thuốc BVTV thảo mộc) hỗ trợ cho các hộ trong dự án.

 

Với việc tuân thủ đúng các yêu cầu kỹ thuật, mô hình đã giảm được 50% lượng phân bón hóa học, thay thế bằng phân vi sinh, phân chuồng hoai mục; thay thế hoàn toàn thuốc trừ sâu hóa học bằng thuốc trừ sâu sinh học, một số đã sử dụng thuốc thảo mộc. Cây Chè Thái Nguyên trong những vùng thực hiện mô hình đang dần thích ứng, cây sinh trưởng tốt, sâu bệnh giảm, năng suất ổn định, giá bán đã tăng hơn 5 – 7 nghìn/kg Chè Thái Nguyên búp tươi; đây chính là tiền đề tạo vùng nguyên liệu cho các doanh nghiệp, HTX mở rộng sản xuất, xây dựng thương hiệu, xây dựng sản phẩm OCOP.

 

03.JPG

Mô hình sản xuất Chè Thái Nguyên hữu cơ tại xã Hoá Thượng, huyện Đồng Hỷ

Bên cạnh những vùng Chè Thái Nguyên sạch, mô hình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ quy mô 35 ha đã được trung tâm triển khai tại các xã Tân Đức, Úc Kỳ của huyện Phú Bình. Tại xã Tân Đức, mô hình có diện tích 21 ha, sử dụng giống lúa J02 và U17; xã Úc Kỳ với quy mô 14 ha sử dụng giống nếp thầu dầu; các hộ tham gia mô hình đều được tập huấn kỹ thuật, cấp vật tư theo đúng quy định. Cây lúa trong các mô hình đều sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh; năng suất của giống J02 đạt 2 tạ/sao, giống U17 đạt 2,2 tạ/sào, giống nếp thầu dầu đạt 42,7 tạ/ha.

 

Mô hình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ, sử dụng phân hữu cơ vi sinh giúp cây lúa cứng hơn, hạn chế được sâu bệnh, giảm được số lần phun thuốc BVTV, giữ được môi trường sinh thái tự nhiên. Những mô hình này đang được chính quyền và người dân nơi đây tiếp tục phát huy, mở rộng diện tích, vùng lúa hàng hóa chất lượng cao đang dần hình thành.

 

04.JPG

Mô hình sản xuất lúa nếp thầu dầu theo hướng hữu cơ tại xã Úc Kỳ, huyện Phú Bình

Với việc chuyển giao khoa học kỹ thuật bằng những mô hình điểm nhằm phát huy lợi thế của mỗi vùng, thích ứng với các điều kiện canh tác... Khuyến nông Thái Nguyên đang từng bước, từng bước mang tới cho bà con nông dân những cách làm mới, cách làm hiệu quả, cách làm an toàn, đưa thu nhập của người dân từng bước nâng cao; chất lượng cuộc sống các vùng nông thôn trên địa bàn không ngừng cải thiện, đó chính là những đích đến của nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.