Thứ Năm, 23 tháng 4, 2020

Chè xanh dòng thượng hạng, hảo hạng và cao cấp với giá bán trung bình từ 500 đến 1,5 triệu đồng/kg

Có phải trà Thái Nguyên vài năm trở lại đây, vấn nạn thực phẩm bẩn khiến người tiêu dùng không khỏi hoang mang, lo lắng?

Nhất là vấn đề tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong các sản phẩm nông nghiệp. Trước thực trạng đó, anh Nguyễn Kim Tuấn, Giám đốc Chi nhánh Công ty cổ phần NTEA Việt Nam tại Thái Nguyên đã mạnh dạn đi tiên phong trong việc sản xuất chè Thái Nguyên theo phương pháp hữu cơ tại xã Hóa Thượng (Đồng Hỷ) với mong muốn đưa ra thị trường sản phẩm chè an toàn và từng bước góp phần thay đổi nhận thức của người dân


Đến thăm nương chè của Công ty, chúng tôi quan sát thấy mỗi lô chè đều được quy hoạch và có biển ghi thứ tự riêng. Ở các lô đều có giàn van xoay tưới tự động cùng hệ thống cảm biến điều khiển tự động từ xa. Bước vào bên trong nương chè, không khí dịu mát, trong lành khiến chúng tôi cảm thấy thật khoan khoái, dễ chịu. Trò chuyện cùng chúng tôi, anh Nguyễn Kim Tuấn chia sẻ: Tôi quê gốc ở Văn Chấn (Yên Bái), mảnh đất nơi cây chè đã nuôi sống bao thế hệ. Từ nhỏ đến lớn, tôi đã được chứng kiến cảnh những người nông dân oằn lưng khoác trên vai những bình thuốc sâu, mồ hôi mồ kê nhễ nhại để phun chè bất kể ngày nắng cũng như ngày mưa. Sau những đợt phun ấy, cả làng, cả xóm lại phải cùng nhau hít thở bầu trong không khí nồng nặc mùi thuốc. Rồi nhà nào nhà nấy bón phân hóa học vô tội vạ khiến đất đai bị chai lì, không còn độ tơi xốp màu mỡ nữa.
Mang theo những điều trăn trở ấy trong hành trang lập nghiệp, anh Tuấn đã nảy ra ý tưởng đầu tư sản xuất chè theo hướng hữu cơ. Và anh chọn mảnh đất Thái Nguyên - nơi nổi tiếng đệ nhất danh trà để bắt đầu gây dựng sự nghiệp. Anh Tuấn kể: Khi tôi mới bắt đầu ý tưởng làm chè hữu cơ, bạn bè ai cũng nói tôi là viển vông. Họ nói người dân Thái Nguyên làm trà xanh thái nguyên bao đời nay, có phun thuốc, bón phân hóa học thì chè mới có năng suất. Giờ không dùng thuốc bảo vệ thực vật, không dùng phân kích thích thì có mà "ăn cám". Riêng tôi vẫn giữ nguyên suy nghĩ của mình. Bắt tay vào làm, năm 2012, tôi đã chọn xóm Văn Hữu, xã Hóa Thượng để mua và thuê lại 5ha diện tích chè của bà con. Vừa làm tôi vừa tuyên truyền, vận động, hướng dẫn bà con cùng làm. Bởi, làm chè hữu cơ không phải nói làm là làm ngay được mà phải kiên trì theo đuổi. Đối với cây chè, phải mất ít nhất 3 năm không bón phân hóa học, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thì cây và đất mới hết tồn dư chất hóa học.
Trong khoảng thời gian này, anh Tuấn đã chỉ đạo công nhân tập trung ủ phân vô cơ để bón cho cây chè, đồng thời, đầu tư hệ thống từ nhà xưởng, kho bảo quản, trưng bày sản phẩm, lắp đặt các trang thiết bị phục vụ việc theo dõi, chăm sóc cho cây chè... với tổng kinh phí hơn 30 tỷ đồng. Cụ thể, Công ty áp dụng đồng bộ tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc canh tác cũng như chế biến sản phẩm chè. Đồng thời sử dụng công nghệ điện toán đám mây vào hệ thống tưới tiêu tự động, sử dụng chip điện tử để theo dõi hướng gió, độ ẩm, dinh dưỡng và dự báo thời tiết. Ngoài việc sử dụng phân vô cơ đã được ủ kỹ, Công ty còn dùng các loại chế phẩm như IMZ, BIO FIM để kích thích khả năng hấp thụ của cây. Vừa làm vừa cải tạo đất, chăm sóc cho cây, đến đầu năm 2016, sản phẩm chè của Công ty mới được công nhận đạt sản phẩm chè hữu cơ. Hiện, trung bình mỗi năm, Công ty thu hoạch được 12 tấn chè búp tươi/ha/năm.
Với phương châm "lấy chất lượng sản phẩm là lợi thế cạnh tranh, lấy sự an toàn của người tiêu dùng là thước đo giá trị", hiện nay, Công ty đã tạo ra các dòng sản phẩm từ nguồn nguyên liệu chè sạch như: Chè xanh dòng thượng hạng, hảo hạng và cao cấp với giá bán trung bình từ 500 đến 1,5 triệu đồng/kg. Ngoài ra, còn có các sản phẩm được ưa chuộng như: trà túi lọc, bột trà xanh Matcha, trà sữa. Trong thời gian tới, hướng phát triển của Công ty sẽ áp dụng sản phẩm chè sạch để làm nguyên liệu cho hóa mỹ phẩm, hàng tiêu dùng... Sản phẩm của Công ty ngoài tiêu thụ trong nước còn hướng tới xuất khẩu sang các thị trường như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Đức... Đến nay, Công ty cổ phần NETA Việt Nam là đơn vị đầu tiên trong Hiệp hội Chè Việt Nam được tổ chức chứng nhận Quốc tế Biocer International trao chứng nhận sản phẩm trà đạt tiêu chuẩn hữu cơ nông nghiệp IFOAM. Để đạt được chứng nhận này, trước đó, các điều kiện về tự nhiên, nguồn đất, nguồn nước, sản phẩm sơ chế của Công ty đã phải trải qua hàng loạt những kiểm nghiệm nghiêm ngặt và phân tích một cách khoa học theo các tiêu chuẩn Quốc tế.
Nói về những khó khăn trước mắt, anh Tuấn chia sẻ: Sản xuất nông nghiệp hữu cơ đem lại những sản phẩm sạch, an toàn nhưng hiện nay còn khá mới mẻ với người tiêu dùng. Vì vậy, nhiều khách hàng còn khá rụt rè với các sản phẩm chè hữu cơ. Hiện tại, vùng nguyên liệu của Công ty mới chỉ có 5ha, chúng tôi rất mong được tỉnh tạo điều kiện để mở rộng vùng nguyên liệu, hỗ trợ vay vốn ưu đãi để tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm cho lao động địa phương.
Có thể thấy, việc đạt được chứng nhận hữu cơ quốc tế cho sản phẩm chè của Thái Nguyên đã khẳng định niềm tin với bạn bè trong nước, quốc tế về sản phẩm trà ngon sạch, chè an toàn của tỉnh Thái Nguyên. Đây chính là giấy phép "thông hành" tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sản phẩm; đồng thời, nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm chè, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Để mô hình tiếp tục phát triển và nhân rộng trong thời gian tới rất cần sự quan tâm, vào cuộc của các cấp chính quyền nhằm chia sẻ khó khăn, động viên, giúp đỡ doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất.

Cây chè đã bén rễ, đâm chồi trên đất này từ trước năm 1965

Trồng các loại trà ngon ở Tân Linh, Đại Từ đạt kết quả ra sao?

Với 75% diện tích đất là đồi núi, xã Tân Linh (Đại Từ) đã tập trung vào phát triển cây chè Thái Nguyên. Cùng với mở rộng diện tích, các giống chè mới đã được đưa vào sản xuất, nhờ đó mà sản lượng chè của xã luôn đứng đầu huyện, góp phần nâng cao đời sống của người dân.

Xã Tân Linh chỉ có 123ha ruộng, chủ yếu là các diện tích xen kẹp giữa những đồi núi. Thêm vào đó, địa hình đồi núi dốc, khó chủ động nguồn nước tưới nên càng khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Thế nhưng không vì thế mà kinh tế ở đây kém phát triển, với sự cần cù, chịu khó, người dân Tân Linh đã biết đầu tư phát triển cây trồng chủ lực là cây chè, để nâng cao hiệu quả kinh tế. Cây chè đã bén rễ, đâm chồi trên đất này từ trước năm 1965, thời điểm đó, một số hộ dân từ Thái Bình, Hà Nam Ninh nghe theo tiếng gọi của Đảng đi xây dựng vùng kinh tế mới, lên đây khai hoang trồng chè, lúa, ngô… theo năm tháng, diện tích chè ở đây cứ tăng dần, những vùng đất trống đồi núi trọc đã được phủ kín màu xanh của chè. Đến nay toàn xã có trên 629ha chè, trong đó có 546ha chè kinh doanh, là xã có diện tích chè lớn nhất huyện Đại Từ với trên 90% hộ dân trồng chè. Cây chè Thái Nguyên trở thành nguồn thu chính của hơn 1.600 hộ dân, chiếm 98% số hộ trong xã.
Cùng với việc phát triển diện tích chè, những năm qua, xã Tân Linh đã thực hiện nhiều biện pháp để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè. Trong đó, xã quan tâm nhất đến việc tuyên truyền, hỗ trợ người dân chuyển đổi từ chè giống cũ sang các loại chè giống mới. Việc chuyển đổi giống chè được thực hiện mạnh từ năm 2014. Được Nhà nước hỗ trợ 100% giá giống, xã đã tuyên truyền đến người dân về lợi ích, năng suất, chất lượng của chè giống mới, qua đó ngay trong năm, 566 hộ trồng chè tại 14/14 xóm trên địa bàn xã đã thực hiện trồng thay thế 100ha chè trung du bằng các giống chè mới LDP1 và Kim Tuyên. Đến nay diện tích giống chè mới trên toàn xã đạt trên 240 ha, chiếm 40% diện tích chè toàn xã.
Ông Phạm Thế Anh, Trưởng xóm 10 cho biết: Được tuyên truyền và tham gia các lớp tập huấn, người dân trong xóm đã thay đổi tư duy và tích cực chuyển đổi diện tích chè trung du già cỗi sang trồng chè cành như Kim Tuyên, LDP1…Đến nay, toàn xóm có 35/41ha (chiếm hơn 85%) là các giống chè cành. Năng suất chè hiện đạt từ 20 đến 25kg/sào, giá bán khoảng 180 đến 220 nghìn đồng/kg, cao hơn từ 5 đến 10 kg/sào và giá gấp 2 lần chè trung du.
Nhờ tích cực chuyển đổi giống mới, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nên giá trị sản phẩm chè của xã ngày càng được nâng lên, đời sống người dân được cải thiện. Theo thống kê sơ bộ, hiện nay, hơn 42% diện tích trà ngon trong xã là giống chè cành, thu nhập trung bình gần 300 triệu đồng/ha.
Bên cạnh chuyển đổi cơ cấu giống chè, nhằm tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm chè Tân Linh, nhiều hộ dân trong xã đã áp dụng quy trình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP. Hiện, xã có hơn 20ha chè tại xóm 11 được sản xuất theo quy trình này. Với hơn 50 năm trồng chè, bà con xóm 11 đã có nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong sản xuất, chế biến chè và biết làm thế nào để sản phẩm chè có được chất lượng tốt, giá thành cao. Từ năm 1995 đến nay, nhiều loại máy móc đã được đưa vào quá trình sản xuất chè, giải phóng sức lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đến năm 2012, khi có lớp tập huấn về sản xuất chè an toàn, nhân dân xóm 11 đã nhiệt tình tham gia, và đăng ký áp dụng thực hiện. Sau một thời gian triển khai thực hiện, những tổ viên trong tổ hợp tác chè đã thay đổi được thói quen canh tác cũ, biết cách sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đúng quy định, sản phẩm chè VietGAP của Tân Linh cũng được nhiều người tiêu dùng lựa chọn. Xóm có 96 hộ thì 87 hộ chuyên làm chè với tổng diện tích 60ha, mỗi năm xóm xuất bán khoảng 200 tấn, doanh thu đạt 16 tỷ đồng.
Chúng tôi đến Tân Linh vào đúng tiết Xuân, trên khắp đồi trên, bãi dưới, đâu đâu cũng thấy chè đâm búp non mơn mởn. Ai cũng phấn khởi bởi một vụ thời tiết thuận lợi, chè xuân được mùa. Nhờ đầu tư mạnh cho cây chè, nên các sản phẩm chè của xã Tân Linh ngày càng khẳng định được vị thế trên thị trường. Đặc biệt, sau khi sản phẩm trà của 2 xóm: xóm 11 và 12 được Bộ Nông nghiệp và PTNT cấp chứng nhận chè sạch, an toàn theo tiêu chuẩn VietGap, chè Tân Linh càng được nhiều người biết đến. Đời sống người dân vùng chè cũng nhờ đó mà ngày càng khá giả. Xã có hơn 2.000 hộ, đến nay chỉ còn hơn 20 hộ nghèo, nhiều gia đình đã xây dựng được nhà khang trang, mua được ô tô.
Ông Hoàng Hải Quân, Chủ tịch UBND xã Tân Linh cho biết: Xã đang tập trung xây dựng Tân Linh thành vùng chuyên canh chè. Với xu thế hướng tới sản xuất các sản phẩm trà bắc chất lượng cao, hiện nay xã đang tích cực vận động nhân dân tiếp tục nhân rộng mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP ra các xóm thông qua công tác tuyên truyền và nhiều hình thức khác, đặc biệt là lồng ghép vào các buổi tập huấn khoa học kỹ thuật.

Giống chè này gần giống chè ta về mô tả, nhưng nước xanh hơn và có vị đâm hơn.

Chè Thái Nguyên có rất nhiều loại và thật khó để thưởng thức hết hương vị của các loại chè đó.

Bởi vì vị giác của mỗi người là khác nhau, nên cảm nhận không hề giống nhau. Nếu bạn đang phân vân không biết loại trà ngon nào phù hợp với sở thích của mình thì hãy cùng tìm hiểu về các loại chè thái nguyên ngon sau đây.

Thái Nguyên có 4 vùng trồng Trà Thái Nguyên nổi tiếng. Tuy nhiên,tTrong khuân khổ bài viết này, chúng ta sẽ chỉ tìm hiểu về các loại chè được trồng tại Tân Cương Thái Nguyên.

1. CHÈ TA – GIỐNG CHÈ GỐC THÁI NGUYÊN

Cây chè ta đã được trồng tại Thái Nguyên từ lâu đời, được gieo trồng bằng hạt. Tuy nhiên cho năng xuất thấp nên diện tích cây chè ta đang dần bị thu hẹp và thay thế bằng các giống chè khác cho năng xuất cao hơn.
tr_thi_nguyn_13
Ảnh có tính chất minh họa
Đặc điểm của chè ta đó là vị đậm, chỉ cần một nhúm nhỏ cũng cho vị trà đậm đà quen thuộc. Màu nước khi pha đậm như chính vị trà vậy.

2. CHÈ CÀNH 777 – GIỐNG CHÈ NĂNG XUẤT CAO

Diện tích trồng chè cành 777 đang ngày được mở rộng. Không chỉ vì năng xuất cao mà loại chè này còn đáp ứng được nhu cầu thưởng thức chè thái nguyên của đại đa số người tiêu dùng.
tr_thi_nguyn_21
Ảnh có tính chất minh họa
Chè có đặc điểm rất dễ nhận thấy: búp nhỏ, có một chút trên búp gọi là tuyết (không phải là chè Shan tuyết). Khi pha thì nước có màu xanh rất đẹp và có cảm giác bụi trắng hình sợi trên mặt nước chè. Đó chính là tuyết chè tan ra. Hương chè thơm hơn chè ta, nhưng màu nước và vị lại không đậm bằng.
Chè cành 777 được hương và vị không quá đậm nên được đại đa số người tiêu dùng ưa chuộng. Trên hết là sản lượng trồng lớn nên giá thành rất phải chăng.

3. CHÈ PHÚC VÂN TIÊN – GIỐNG CHÈ LAI TRUNG HOA

Đây là giống chè vô tính của Trung Quốc được chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống chè Phúc Đỉnh Đại Bạch Trà và bố là giống chè Vân Nam lá to.
Nói đến chè Trung Quốc hay trà bắc là có cảm giác hơi sợ vì sự an toàn. Tuy nhiên, bạn có thể hoàn toàn yên tâm sử dụng, vì giống chè này được trồng hoàn toàn ở Thái Nguyên. Chè này cho năng xuất rất cao và được trồng bằng cách dâm cành.
tr_thi_nguyn_22
Ảnh có tính chất minh họa
Khi pha chè Phúc Vân Tiên cho ra màu nước rất đẹp, xanh và có mùi chè thơm đặc trưng. Khi uống vào có vị ngọt ngay từ đầu. Có mùi thơm gần như mùi hoa nhài. Búp chè khô nhỏ và ngắn.

4. CHÈ KIM TUYÊN – GIỐNG CHÈ ĐÀI LOAN

Đây là giống mang mã số 12 của Đài Loan được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính giữa mẹ là trà Ôlong lá to của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ vào năm 1975. Nhập nội vào Việt Nam năm 1994, trồng ở các đồi chè Thái Nguyên.
tr_thi_nguyn_15
Ảnh có tính chất minh họa
Ngoại hình xoăn chặt, đẹp, có phủ tuyết, nước màu đỏ hồng tươi sáng, có mùi thơm đặc trưng nhưng vị nhạt.

5. CHÈ BÁT TIÊN - GIỐNG CHÈ ĐÀI LOAN

Chè Bát Tiên là giống chè vô tính được nhập về từ Đài Loan. Tuy búp chè không mập mạp, tua tủa như nhiều giống chè khác, nhưng đổi lại, chè Bát tiên có hương vị thơm ngon đặc biệt. Thưởng thức chén trà Bát tiên, người nghiện các loại trà ngon có sành đến mấy cũng phải gật gù nhận xét: “Thơm ngon, đẹp màu, được nước!”.
thng_thc_tr
Ảnh có tính chất minh họa
Chè Bát Tiên là giống chè ngon đặc sản, nước có màu mật ong (đỏ). Búp chè Thái Nguyên và lá chè cũng có màu đỏ. Sản phẩm chè Bát tiên là món quà quý dùng để cho, biếu, tặng.
Cây chè Bát Tiên tương đối khó trồng và có năng xuất không cao, dễ bị sâu bệnh. Chính vì vậy nên giá thành thường cao hơn các loại chè khác. Nhưng những gì mà chè bát tiên mang lại hoàn toàn xứng đáng với số tiền bỏ ra.

6. CHÈ CÀNH LAI

Giống chè này gần giống chè ta về mô tả, nhưng nước xanh hơn và có vị đâm hơn. Những người nghiện chè lâu năm thường sử dụng chè này. Vì chỉ cần một lượng nhỏ cũng đủ tạo ra hương vị đậm đà.
ch_tn_cng_thi_nguyn_8
Ảnh có tính chất minh họa
Trên đây chỉ là một số giống chè đặc sản được trồng phổ biến ở Thái Nguyên. Tất nhiên còn nhiều giống chè khác nữa, nhưng do kiến thức còn hạn hẹp và ít phổ biến tới người tiêu dùng, nên tác giả hẹn dịp khác sẽ viết về các giống chè này.
Các giống chè trên gia đình có trồng và thu hái. Tất cả chè đều được sản xuất thủ công nên hương vị sẽ rất ngon và đặc biệt. Nếu quý khách nào có nhu cầu kinh doanh chè thái nguyên hoặc mua về thưởng thức, vui lòng liên hệ trước để đặt hàng.

Trà Thái Nguyên - Hấp dẫn cùng lòng người mến khách

Những vùng chè Thái Nguyên của Thái Nguyên luôn mới lạ

Hấp dẫn cùng lòng người mến khách. Song tôi cũng như bao người dân của Thái Nguyên, có tâm nguyện nơi quê hương đệ nhất danh trà Thái Nguyên sẽ thực sự trở thành điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. - Nông nghiệp, nông thôn ngày nay, nông thôn mới, lúa nước, ngàn năm văn hiến, trống đồng, hợp tác xã, công nông nghiệp

Sau cả tháng mưa, lạnh, mặt trời mới chịu nhô ra khỏi mờ mây, tỏa nắng ấm xuống vùng đất thủ phủ gió ngàn Thái Nguyên. Những sợi nắng làm đường lên ATK Định Hóa; đến hồ Núi Cốc và những điểm du lịch của tỉnh trở nên khô ráo. Nhân đó, tôi cùng các bạn đồng nghiệp theo chân du khách về thăm những vùng chè bạt ngàn xanh ở Tân Cương (TP Thái Nguyên), Minh Lập (Đồng Hỷ), Tức Tranh, Vô Tranh (Phú Lương) và La Bằng (Đại Từ)…
Đó là vùng đất gắn cùng thương hiệu “đệ nhất danh trà” của Thái Nguyên.
o noi de nhat danh tra
Nông dân Thái Nguyên thu hái chè bằng máy
Theo ông Ngô Xuân Hải, Giám đốc Sở NN-PTNT Thái Nguyên: Hiện toàn tỉnh có hơn 21.000 ha chè, trong đó có hơn 17.000 ha chè đang cho thu hái, với năng suất đạt gần 112 tạ búp tươi/năm, tổng sản lượng đạt trên 194.000 tấn (tương đương 38.800 tấn sản phẩm chè khô)... Từ lâu, chè trở thành cây kinh tế chủ lực của ngành nông nghiệp Thái Nguyên. Với giả định trung bình 1 kg chè thành phẩm được bán với giá 300.000 đồng, thì mỗi năm cây chè mang lại cho nông dân Thái Nguyên số tiền hơn 1.000 tỷ đồng.
Một con số ấn tượng. Tôi thấy lòng mình rạo rực, như lây niềm vui của cư dân thủ phủ các loại trà ngon. Chẳng thế, gặp chúng tôi, nhiều nông dân đã phấn chấn nói chuyện về nghề trồng chè, chế biến chè và nghệ thuật thưởng chè. Có người còn xòe đôi bàn tay cho chúng tôi xem, bảo: Đây là bàn tay vàng. Tôi nắm lấy, cảm động, vì để làm nên thương hiệu bàn tay vàng, gần cả cuộc đời của nghệ nhân vùng chè phải đảo xoa trên lửa, làm từng ngọn, búp của cây chè trở nên tinh túy.
Nhìn bên triền đồi có từng lõng chè vươn dài như vòng tay sơn nữ, mềm mại ôm lấy quầng ngực nở căng của chàng lực điền, từng nhóm nông dân tíu tít trò chuyện, nhưng đôi tay vẫn thoăn thoắt thu hái từng búp chè. Cảnh và người ở vùng chè Thái Nguyên gợi cho tôi liên tưởng đến những vùng chè của Mộc Châu (Sơn La), Suối Giàng (Yên Bái), Cầu Đất (Lâm Đồng)… Đâu cũng non nước mình cả, nhưng vùng đất Thái Nguyên vẫn là địa danh cho con người sản phẩm chè tinh túy, thượng hạng nhất.
Do có địa hình phong phú, nên từng vùng chè ở Thái Nguyên lại tạo ra khung cảnh riêng. Dù mỗi nương chè đều được chia làm nhiều lô nhỏ, trong lô chè lại chia thành hàng lối, thuận việc đi lại, thu hái. Từ xa nhìn lại, thấy tựa một bức tranh phong cảnh đẹp mê hồn. Có điều lạ là bức tranh thiên nhiên của vùng chè liên tục thay đổi màu sắc theo thời gian, bởi cái mầu non tươi mỡ màng của nương chè vào độ tủa búp, khác với sắc màu xanh đen của nương chè vừa được bàn tay “nghệ sĩ” thu hái.
Nhất là lúc được mục sở thị về cách thu hái, chế biến chè của nông dân, chúng tôi mới nghiệm ra: Đôi bàn tay của nông dân vùng chè khác nhiều với đôi bàn tay của nông dân cầm cuốc, cầm liềm, bởi việc thu hái chè đều nhờ vào 10 ngón tay. Và từng ngón tay thon, mềm ấy được tôi luyện trên chảo lửa kể từ lúc búp chè còn tươi xanh, cho đến lúc khô giòn. Đó là đôi bàn tay cảm nhận được nhiệt lượng củi lửa, để cả trăm búp chè sau khi chế biến đều như một, khô đanh lại, uốn thành hình móc câu và có mầu mốc cau.
o noi de nhat danh tra
Những ngày đầu xuân, nhiều người về vùng chè để trải nghiệm cùng nông dân
Sự cầu kỳ, công phu trong chế biến thực chất chỉ làm cho sản phẩm chè được đẹp mã. Mà chè Thái Nguyên ngon, điều khẳng định là do điều kiện thổ nhưỡng phù hợp. Người Việt Nam ai cũng biết điều đó, nên khi có dịp về Thái Nguyên thường mua cân chè làm quà cho người thân. Cách đây ít năm, do điều kiện đi lại khó khăn, nên thường mua chè ở chợ, người không sành có thể mua nhầm phải chè ở tỉnh khác mang đến. Còn những năm gần đây, giao thông thuận lợi, việc giao thương giữa người mua và người bán chè tại Thái Nguyên trở lên gần gũi hơn. Người mua chè trong, ngoài tỉnh thường tìm về các vùng chè đặc sản để thăm thú rồi mới mua. Những vùng chè vì thế trở thành một trong những điểm đến của du khách thích khám phá và có ham muốn gần gũi với thiên nhiên.
Với du khách có trí óc tưởng tượng thì vùng trà bắc còn là nơi khơi nguồn sáng tạo nghệ thuật. Nhất là buổi sớm mai lúc bình minh thức dậy, giữa những tia nắng ấm xiên ngang, gặp sơn nữ nón lá chao nghiêng cả nương chè, cùng đôi tay mau mải như vờn múa giữa mềm mại chồi xuân. Để khi chiều về, mặt trời còn lấp ló ở rặng Tam Đảo, ánh hoàng hôn hồng rực như muốn vớt vát chút thời gian của ngày.
Vẫn những sơn nữ với nón lá chao nghiêng trời chiều, song có gì đó như hoa, như nụ, có lúc tựa tiên nữ lướt nhẹ nhàng trên thảm chè xanh, khiến bao tao nhân mặc khách dùng dằng chẳng muốn về. Còn tôi, khi đó lại nhẩn nha nghĩ suy: Từ năm 2011 đến nay, Thái Nguyên đã có 3 lần festival chè, và từ những mùa hội tôn vinh cây chè, nhiều vùng đất của quê hương Thái Nguyên được bạn bè trong nước, quốc tế biết đến.
Những vùng chè đang thức dậy một tiềm năng du lịch. Nhưng vui nhất phải kể đến việc xây dựng Đề án Phát triển du lịch cộng đồng tại vùng chè đặc sản Tân Cương đã thành hiện thực. Tôi chắc rằng không lâu nữa, vùng chè Tân Cương và các vùng chè của tỉnh Thái Nguyên sẽ thực sự thành một điểm đến lý tưởng cho du khách. Bởi về đây, mỗi người được hòa mình với vùng đồi đất bạt ngàn từng đồi chè nối tiếp nhau chạy tít tắp; được hà hít không khí trong lành, có hương thơm của trời - đất quyện hòa và được ẩm trà, vịnh thơ…
Rồi sau những trải nghiệm, khám phá về vùng đất lấp xấp đồi đất gắn với câu chuyện huyền thoại chàng Cốc, nàng Công, du khách có thể ghé thăm Không gian văn hóa chè. Đây được ví như Bảo tàng của ngành chè Việt Nam, cùng thưởng ẩm, chiêm ngưỡng những cổ vật tinh hoa có liên quan đến cây chè, thưởng chè của người Việt từ hàng trăm năm trước đây.
Những vùng chè của Thái Nguyên luôn mới lạ, hấp dẫn cùng lòng người mến khách. Song tôi cũng như bao người dân của Thái Nguyên, có tâm nguyện nơi quê hương “đệ nhất danh trà” sẽ thực sự trở thành điểm du lịch sinh thái hấp dẫn.
o noi de nhat danh tra
Từ làm chè, nhiều đồng bào người dân tộc thiểu số ở Thái Nguyên thoát nghèo
Theo Phạm Ngọc Chuẩn

Cây chè Thái Nguyên tạo công ăn việc làm cho trên 13 nghìn hộ dân

16 hợp tác xã, tổ hợp tác (HTX, THT) sản xuất chè Thái Nguyên theo quy trình VietGAP

Trên địa bàn huyện Đồng Hỷ mỗi năm cung cấp ra thị trường hơn 1,5 nghìn tấn chè Thái Nguyên búp khô "an toàn". Điều đáng nói là các HTX, THT này đã giải quyết được nhiều vấn đề mà người trồng chè đơn lẻ thường gặp khó khăn, đó là vốn đầu tư, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và tìm đầu ra cho sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao.

HTX chè Nguyên Việt, ở xã Minh Lập được thành lập từ năm 2011 với 20 thành viên. Sản phẩm của HTX được sản xuất theo quy trình VietGAP từ 12ha chè nguyên liệu ở vùng Trại Cài. Bà Uông Thị Lan, Giám đốc HTX cho biết: Từ khi thành lập đến nay, tuy có những thời điểm gặp rất nhiều khó khăn nhưng HTX vẫn luôn giữ vững chất lượng sản phẩm và chú trọng xây dựng thương hiệu, đồng thời bảo đảm lợi ích của các thành viên. Toàn bộ diện tích chè nguyên liệu đều được các gia đình thành viên HTX sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Cùng với đó, HTX chủ động đứng ra cung ứng phân bón, vật tư và phối hợp với Phòng Nông nghiệp - PTNT huyện tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ thuật trồng chè cho các thành viên, đặc biệt là về quy trình, cách thức chế biến sản phẩm trà ngon theo tiêu chuẩn VietGAP. Sau hơn 5 năm hoạt động, HTX đã khẳng định được vai trò đối với các thành viên, nhất là trong việc điều tiết sản xuất, cung ứng phân bón, chuyển giao khoa học kỹ thuật; đồng thời xây dựng thương hiệu và tìm được chỗ đứng vững chắc cho sản phẩm chè của HTX trên thị trường. Năm 2016, doanh thu của HTX đạt 3,5 tỷ đồng; thu nhập bình quân của các thành viên đạt hơn 4 triệu đồng/người/tháng...
Đối với HTX Chè Tuyết Hương ở xã Hóa Trung, ngoài việc giúp đỡ các thành viên về kỹ thuật, mua phân bón trả chậm, vay vốn tín dụng với lãi suất thấp, cung cấp thông tin về thị trường, đơn vị cũng đã có những bước tiến tích cực trong việc xây dựng thương hiệu. Do đó, tuy mới thành lập được 4 năm nhưng HTX đã được nhiều khách hàng biết đến. Chị Trần Thị Tuyết, Giám đốc HTX cho biết: Sau khi thành lập, chúng tôi đã tập trung đầu tư các máy móc sản xuất chè hiện đại, như máy sao chè bằng ga; máy hút chân không… để có thể sản xuất được những sản phẩm có chất lượng cao, đồng đều. Vì sản xuất theo đúng quy trình VietGAP nên đầu ra đảm bảo hơn do khách hàng có thể truy xuất nguồn gốc của sản phẩm. Trung bình mỗi tháng, HTX cung cấp cho thị trường gần 5 tấn chè chất lượng cao... Chị Nguyễn Thị Hoa, một thành viên của HTX chia sẻ: Những năm trước, gia đình tôi chủ yếu trồng chè theo hướng hộ cá thể và giá chè chỉ bán được ở mức thấp, trung bình chỉ từ 120.000 đến 150.000 đồng/kg, cá biệt mới có loại chè bán được với giá 200.000 đồng/kg. Từ ngày tôi tham gia vào HTX thì chè giá bán tăng 20-30% so với trước.
Tại THT sản xuất chè an toàn xóm 9, thị trấn Sông Cầu, các thành viên ở đây đã hình thành những nhóm chuyên biệt trong sản xuất, chế biến chè. THT có trên 40 thành viên thì một nửa trong số đó đảm nhiệm việc chuyên trồng, thu hái, một nửa số thành viên còn lại chịu trách nhiệm chế biến chè và tìm đầu ra cho sản phẩm. Ông Nguyễn Đức Trọng, Tổ trưởng THT sản xuất chè an toàn xóm 9, thị trấn Sông Cầu cho biết, việc hình thành những nhóm chuyên biệt như vậy giúp nông dân không phải đầu tư dàn trải, tập trung làm tốt phần việc mình đảm nhiệm. Sau 3 năm hoạt động, đến nay chúng tôi đã hợp tác được với 7 nhà phân phối lớn với nhiều đại lý trên 15 tỉnh, thành. Mỗi năm bán ra thị trường khoản 30 tấn chè "an toàn" với mức giá trung bình 250.000 đến 300.000 đồng/kg. Ông Nguyễn Văn Hạnh, một thành viên trong THT cho biết, gia đình tôi là hộ chỉ chuyên trồng, thu hái chè cung cấp cho các thành viên của làng nghề chế biến. Trước đây, khi chưa vào THT, ngoài vất vả tìm hiểu kỹ thuật trồng chè, tôi còn phải tính toán xoay vòng vốn, tự tìm thương lái để tiêu thụ sản phẩm và nhiều khi bị ép giá. Từ khi tham gia vào Tổ, những khó khăn trên đã được giải quyết. Gia đình tôi đã áp dụng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, tiết kiệm được chi phí về phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, lại an toàn cho môi trường và sức khỏe bản thân nên tôi yên tâm sản xuất. Với gần 1ha chè thì mỗi tháng, gia đình tôi cũng thu được từ 4 đến 5 triệu đồng.
Được biết, huyện Đồng Hỷ có diện tích chè đứng thứ hai trong tỉnh, với diện tích trên 3,2 nghìn ha, trong đó chè kinh doanh gần 2,9 nghìn ha, năng suất ước đạt 121 tạ/ha/năm, sản lượng chè búp tươi đạt 34,8 nghìn tấn/năm. Cây chè Thái Nguyên tạo công ăn việc làm cho trên 13 nghìn hộ dân, chiếm khoảng 50% dân số toàn huyện. Sự ra đời của các HTX, THT sản xuất, chế biến chè theo quy trình VietGAP đã giúp người dân có những bước tiến trong nâng cao giá trị sản phẩm chè.
Nói về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Lệ, Phó phòng Nông nghiệp - PTNT huyện Đồng Hỷ cho biết: Để cây chè phát triển bền vững, thời gian qua, chúng tôi đã đặc biệt quan tâm đến các mô hình chè VietGAP, vận động các HTX, THT và người dân sản xuất theo quy trình này. Chúng tôi đã phân công cán bộ kỹ thuật bám sát địa bàn, tư vấn kỹ thuật và giải đáp thắc mắc cho nông dân, vận động họ tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật. Qua đó, trên địa bàn đã có 5 HTX và 11 THT sản xuất chè theo quy trình sản xuất chè an toàn VietGAP. Các HTX và THT đều đầu tư máy móc sản xuất, dây chuyền đóng gói sản phẩm; lượng hóa quy trình bón phân, chăm sóc cây chè; chuyên nghiệp hóa các khâu sản xuất thành phẩm chè búp khô; hình thành những nhóm chuyên biệt trong sản xuất, chế biến trà bắc. Nhờ đó, đã sản xuất được những sản phẩm có chất lượng cao, đồng đều, mẫu mã đa dạng, phong phú và có tư cách pháp nhân, tạo được niềm tin của người tiêu dùng.
Năm 2017, huyện Đồng Hỷ sẽ duy trì diện tích chè sản xuất theo quy trình VietGAP đã xây dựng được tại các xã Hòa Bình, Minh Lập, Văn Hán, Khe Mo và thị trấn Sông Cầu. Đồng thời, xây dựng mới vùng chè an toàn với quy mô 12,69ha sản xuất theo quy trình VietGAP tại xã Văn Hán, nâng tổng số diện tích chè sản xuất theo quy trình VietGAP được công nhận trên toàn huyện đạt 128,31ha.

Về làng nghề xóm Hồng Thái 2, xã Tân Cương

Chất lượng sản phẩm trà Thái Nguyên ở Tân Cương

Về làng nghề xóm Hồng Thái 2, xã Tân Cương (T.P Thái Nguyên) hỏi đến nhà ông Lê Quang Nghìn không ai là không biết. Bởi, từ lâu gia đình ông có tiếng làm chè Thái Nguyên ngon, ông từng được vinh danh là điển hình trong mô hình sản xuất kinh tế giỏi của tỉnh và thành phố.

trà bắc thái nguyên (13)
Với hơn 40 năm kinh nghiệm làm chè ông Nghìn chia sẻ: Gia đình tôi đã có 5 đời gắn bó ây chè, từ nhỏ thì tôi đã được truyền dạy cho bí quyết trồng chè và chế biến chè. Chè thì ở đâu cũng có nhưng không phải ở đâu cũng ngon, bởi ngoài yếu tố khí hậu, thổ nhưỡng thì đòi hỏi người làm chè phải khéo léo trong từng khâu chế biến. Trong các công đoạn chế biến chè thì sao chè được xem là khâu quan trọng hơn cả bởi người chế biến không những phải dùng đến thị giác của mình mà còn phải dùng khứu giác, xúc giác nghĩa là mắt phải luôn nhìn để theo dõi sự thay đổi trong màu sắc của chè, tay phải sờ vào thì mới cảm nhận được chè đã đủ khô chưa và phải đưa chè lên mũi để kiểm tra xem chè đã đủ dậy hương chưa.
Nhận thấy việc sao chè bằng tay và làm chè thủ công không mang lại thu nhập cao cho gia đình, ông đã mạnh dạn đầu tư hơn 30 triệu đồng để mua máy sao chè, máy vò chè và lắp đặt dàn phun nước tưới cho cây chè nhằm nâng cao chất lượng chè và giảm thiểu sức lao động. Đặc biệt, từ năm 2010 đến nay, toàn bộ diện tích hơn 8.000m2 chè của gia đình ông đều áp dụng sản xuất theo quy trình VietGap, nhờ đó mà năng suất và sản lượng chè đã tăng lên đáng kể. Trước đây, cùng diện tích hơn 8.000m2 đất trồng chè chỉ cho thu hoạch 3,5 tấn chè búp khô/năm nhưng từ khi áp dụng khoa học kỹ thuật cùng với việc đưa quy trình sản xuất chè VietGap vào thì năng suất chè của gia đình ông đã tăng lên đến 4 tấn chè búp khô/năm. Chất lượng chè được đảm bảo hơn và cũng từ đó mà “thương hiệu” chè của gia đình ông ngày càng tạo được chỗ đứng và niềm tin trong lòng người tiêu dùng. Ông Nghìn chia sẻ: Quy trình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VIETGAP đòi hỏi khắt khe đó là chè được trồng ở đồi chè có độ dốc bình quân hợp lý, dồi dào nước ngầm, mùa mưa thoát nước nhanh, không bị úng; Nguồn nước, đất và không khí không bị nhiễm độc chất hóa học và vi sinh vật; giống chè thì phải có nguồn gốc rõ ràng. Chè phải luôn được chi cục quản lý, chi cục bảo vệ thực vật lấy mẫu kiểm tra liên tục…
Với hơn 8.000 m2 đất chủ yếu dành cho trồng chè, thu nhập từ việc sản xuất các loại trà ngon của gia đình ông lên đến 400-500 triệu đồng/năm, trừ các chi phí cho thu lãi từ 250- 300 triệu đồng/năm. Loại chè gia đình ông sản xuất chủ yếu là chè búp khô, trong đó có 3 loại đó là “chè móc câu” truyền thống, giá bán dao động từ 250- 400 nghìn đồng/kg, đây là loại chè được bán chạy nhất và dễ dàng được tiêu thụ nhất; “chè tôm nõn” có giá bán dao động từ 500- 650 nghìn đồng/kg; “đinh trà” có giá thành dao động từ 2,5 triệu đồng đến 3 triệu đồng/kg, loại chè này chỉ làm theo đơn đặt hàng vì giá thành khá cao. Đến nay, các mặt hàng chè của gia đình ông không những được người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh biết đến mà người tiêu dùng ở các tỉnh khác cũng đã biết đến và đặt mua như: Hà Nội, Bắc Giang, Hải Phòng,Nam Định…
Không những có công đóng góp trong việc tạo dựng tên tuổi cho vùng chè Tân Cương và mang thứ hương vị đặc biệt này đi đến khắp nơi trên mọi miền Tổ quốc mà ông Nghìn còn là người đã có công lao rất lớn trong việc giúp vùng chè nơi đây trở thành vùng chè du lịch. Được biết, ông từng được đào tạo qua lớp du lịch cộng đồng năm 2013 nên từ khi xã Tân Cương chưa được công nhận là “vùng chè du lịch” thì đã từng có rất nhiều đoàn khách du lịch tìm đến gia đình ông và đến với vùng trà Tân Cương để thăm quan và mua trà, tính đến nay phải có đến 500- 600 lượt người, thậm chí có cả những du khách ở nước ngoài đã tìm đến đây.
Với ước mơ mang thương hiệu chè Tân Cương Thái Nguyên đi tới mọi miền Tổ quốc và trên cả thế giới nên nhiều năm qua ngoài việc vận động ông còn chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ người dân trong xã cùng trồng chè và sản xuất chè an toàn. Tháng 11 năm 2015, ông đã hợp tác trong việc cung cấp nguyên liệu chè sạch và nơi làm việc để chế biến bột trà Matcha cho Công ty TNHH Tâm Thái ViệtNamdo một số bạn sinh viên của trường đại học Công Nghiệp Thái Nguyên thành lập.
Những nỗ lực vươn lên không ngừng của ông Lê Quang Nghìn trong phát triển kinh tế đã mang lại kết quả, giờ đây ông đã có một cơ nghiệp vững vàng. Chia sẻ với chúng tôi, ông Lê Đức Doãn, người dân trong xóm cho biết: Nói đến ông Lê Quang Nghìn thì ở địa phương tôi, ai cũng thán phục. Bởi không chỉ là người giỏi làm kinh tế, ông Nghìn còn là người nhiệt tình, luôn giúp đỡ người khác, nhiều năm qua ông Nghìn thường xuyên giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm trồng chè, làm chè, giới thiệu giống chè có năng suất, chất lượng cao cho các hộ gia đình trong xã để mọi người cùng chuyển đổi cơ cấu giống nhằm nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm chè, từ đó cùng nhau vươn lên làm giàu”.
Phát triển kinh tế phù hợp điều kiện tự nhiên của địa phương là điều rất quan trọng và thiết thực. Quy mô sản xuất chè của ông Lê Quan Nghìn tuy không phải là mô hình quy mô lớn song cũng đã đem lại hiệu quả kinh tế khá cao cho gia đình, mô hình làm chè an toàn của ông là mô hình tiêu biểu, đáng để cho các hộ gia đình trên địa bàn xã noi theo.

thưởng thức ấm trà Thái Nguyên ngon để thêm gần nhau hơn

Trà Thái Nguyên có lẽ là món đồ uống được nghĩ tới đầu tiên khi nói về đồ uống truyền thống của người Việt

Nhắc đến ẩm thực Việt Nam là nhắc đến những món ăn truyền thống, những đồ uống truyền thống như trà ngon đã đi vào văn hóa người Việt. Văn hóa ẩm thực của người Việt không chỉ nói về sự đa dạng trong các món ăn, cách chế biến, nguyên liệu của món ăn ra sao mà còn là cách thưởng thức món ăn, đồ uống đó. Cách ăn của từng món ăn truyền thống, cách uống của những món đồ uống truyền thống quen thuộc nhưng không phải ai cũng biết. Tất cả điều đó đã tạo nên nét văn hóa riêng trong văn hóa ẩm thực của Việt Nam.

Nói về đồ ăn truyền thống thì không phải chỉ có một vài món, mà mỗi miền lại có một món ăn riêng. Bánh chưng, bánh cuốn, nem cuốn… và rất nhiều món ăn khác nữa mà khi nhắc tới thôi là người ta đã nghĩ ngay tới hương vị thơm ngon của chúng. Nhưng đồ uống truyền thống của Việt Nam thì chỉ được đếm trên đầu ngón tay.
Trà Thái Nguyên có lẽ là món đồ uống được nghĩ tới đầu tiên khi nói về đồ uống truyền thống của người Việt.
tra thai nguyen net dep trong van hoa am thuc cua nguoi viet
Trong văn hóa uống của người Việt Nam, phải kể đến thú uống nước trà, đây là một văn hóa có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn là một trong những điểm nổi bật trong văn hóa ẩm thực dân tộc.
Chén trà có mặt ở mọi lúc, mọi nơi trong đời sống hàng ngày của người Việt. Khi có khách đến nhà, để bắt đầu cho mỗi câu chuyện thì chén trà bắc là thứ không thể thiếu. Bắt đầu cho một ngày mới hay trong những buổi làm đồng vất vả hay trong cơ quan làm việc, tất cả đều có mặt chén trà Thái Nguyên.
tra thai nguyen net dep trong van hoa am thuc cua nguoi viet
Nhắc đến Thái Nguyên là nhắc tới hồ Núi Cốc, sông Công, di tích ATK Định Hóa và một thứ không thể thiếu là những đồi chè xanh bạt ngàn. Trà Thái Nguyên vốn đã nổi tiếng từ lâu nhưng ít ai biết là cây chè không phải có nguồn gốc từ Thái Nguyên. Khoảng năm 1922 với mục đích phủ xanh đồi trọc, người dân Thái Nguyên đã đến vùng Phú Hộ, Phú Thọ đem cây chè trung du về trồng. Điều đặc biệt là giống chè trung du này khi trồng ở Thái Nguyên lại sinh trưởng rất tốt và cho ra hương vị ngon hơn hẳn so với khi trồng tại Phú Thọ và làm nên một đặc sản như bây giờ. các loại trà ngon đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng, là một sản phẩm mang tính đặc thù của quê hương, vì thế nói đến Thái Nguyên là không thể quên món đồ uống này.
Ở Việt Nam không có trà đạo như Nhật Bản nhưng trong từng cách pha trà, dâng trà và thưởng trà đã nói lên những nét văn hóa vô cùng đặc sắc của người Việt. Trong văn hóa trà Việt Nam, người nhỏ pha trà, dâng trà mời người lớn hơn. Văn hóa đó còn thể hiện đặc biệt hơn trong cách thưởng thức trà. Hương cốm non, vị chan chát đầu lưỡi, vị ngọt cuống họng, những hương vị đặc trưng của trà Thái Nguyên sẽ được người ta thưởng thức và gọi đó là một văn hóa, một nét văn hóa truyền thống mà con người Việt Nam vẫn làm hàng ngày nhưng vô tình không để ý nhiều đến nó.
tra thai nguyen net dep trong van hoa am thuc cua nguoi viet
Ngày nay, chúng ta đang tất bật với những bộn bề lo toan cuộc sống mà đôi khi thèm một cảm giác thanh thản, yên bình để quên đi những lúc mệt mỏi đó, cùng nhau tâm sự, cùng nhau lắng nghe để cuộc sống chậm lại, nhẹ nhàng hơn. Chính vì thế mà mỗi khi có thời gian rảnh rỗi, mọi người trong gia đình hay bạn bè thường ngồi lại với nhau quanh ấm trà nóng để cùng cười, cùng nói, cùng thưởng thức ấm trà Thái Nguyên ngon để thêm gần nhau hơn.
tra thai nguyen net dep trong van hoa am thuc cua nguoi viet
Qua đó mới thấy, văn hóa trà Việt không chỉ ở cách pha trà, dâng trà và thưởng trà mà còn thể hiện ở từng câu chuyện khi uống trà. Người ta thưởng trà có thể độc ẩm, nhị ẩm hoặc tam ẩm, đặc biệt hơn nữa là quần ẩm, tức là nhiều người cùng thưởng thức. Những câu chuyện xoay quanh ấm trà thường chỉ là những câu chuyện hết sức bình dị trong cuộc sống mỗi con người. Nhưng chính sự bình dị đó đã làm nên một nét văn hóa vô cùng độc đáo trong ấm trà Thái Nguyên.
Nét văn hóa trà đó vẫn luôn hiện hữu trong mỗi con người Việt và chắc chắn sẽ được lưu lại mãi, bảo tồn mãi về sau.