Thứ Năm, 23 tháng 4, 2020

sản xuất trà bắc hữu cơ nói riêng của Thái Nguyên phát triển đúng

Trà Xanh Thái Nguyên có được sản xuất an toàn?

Hầu hết các mô hình sản xuất nông nghiệp an toàn theo các chứng nhận khác nhau thường chỉ tồn tại trong thời gian nhận được sự hỗ trợ. - Nông nghiệp, nông thôn ngày nay, nông thôn mới, lúa nước, ngàn năm văn hiến, trống đồng, hợp tác xã chè Thái Nguyên, công nông nghiệp

Khi tham gia mô hình, có ít nhiều nhận thức về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt nhưng để tự thân người nông dân chuyển thành hành động là vô cùng nan giải. Sản xuất chè hữu cơ cũng không ngoại lệ. Trong điều kiện đó, doanh nghiệp sẽ là nhân tố quan trọng chủ chốt tạo ra mô hình bền vững, có sức lan tỏa mạnh mẽ.

Nhẫn nại

Ông Nguyễn Kim Tuấn, Giám đốc Chi nhánh Cty Cổ phần NTEA Việt Nam tại Thái Nguyên cho rằng, đòi hỏi của người tiêu dùng về những sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đã khiến cho những thương hiệu tồn tại nương tựa vào hào quang của thương hiệu quá khứ dần bị mai một, mất chỗ đứng.
Chính vì vậy mà khi quyết định đầu tư vào Thái Nguyên để sản xuất chè hữu cơ, Cty không lựa chọn những vùng chè nổi tiếng. Địa điểm sản xuất của Cty được chọn là 5ha chè liền khoảnh thuộc xóm Văn Hữu (xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ).
Ông Tuấn kể, ông sinh ra và lớn lên ở Văn Chấn (Yên Bái), nơi mà cây chè đã nuôi sống biết bao thế hệ của gia đình ông. Vậy nhưng, ngay từ khi còn nhỏ, ông đã chứng kiến cảnh những người làm chè quê mình vãi sức, đổ độc lên những nương chè như thế nào.
Người người, nhà nhà dùng phân bón hóa học chút vô tôi vạ lên đồi trà ngon. Cứ mưa lại đi bón đạm. Thấy sâu là phun. Phun một thứ thuốc không thấy hết sâu thì phun thuốc khác. Không được thì cộng hai ba loại lại phun tổng hợp. Phun buổi sáng, buổi chiều phun tiếp. Bao giờ hết sâu thì thôi. Nhiều người vác bình thuốc sâu về đến nhà thì nằm vật ra vì nhiễm độc.
Mang tư duy thay đổi và phương pháp sản xuất chè hữu cơ đến Thái Nguyên - thủ phủ trà Việt để đầu tư, ông Tuấn đón nhận nhiều hoài nghi, phản ứng. Rằng làm chè mà không thuốc sâu, không phân bón hóa học, thuốc bón lá, kích phọt đủ loại thì chỉ có lấy sâu chè, lấy rễ chè pha nước mà uống.
Không nao núng, năm 2012, ông Tuấn chọn mua và thuê lại diện tích 5ha chè của người dân xóm Văn Hữu. Theo ông, làm chè hữu cơ không phải nói làm là làm ngay được mà phải kiên trì theo đuổi. Đối với cây trà xanh thái nguyên, phải mất ít nhất 3 năm không bón phân hóa học, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thì cây và đất mới hết tồn dư chất hóa học.
Với tổng nguồn vốn đầu tư trên 30 tỷ đồng, Chi nhánh Cty NTEA Việt Nam tại Thái Nguyên đã tạo ra phương thức sản xuất chè công nghệ cao. Áp dụng đồng bộ tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc canh tác cũng như chế biến sản phẩm chè. Mỗi lô chè đều được quy hoạch và có biển ghi thứ tự riêng. Ở các lô đều có giàn van xoay tưới tự động cùng hệ thống cảm biến điều khiển tự động từ xa.
Đúng như tính toán, vừa làm, vừa tuyên truyền, vận động hướng dẫn bà con cùng làm, sau 3 năm, đến đầu năm 2016, sản phẩm chè của Chi nhánh Cty CP NTEA Việt Nam tại Thái Nguyên đã được công nhận đạt tiêu chuẩn sản phẩm chè hữu cơ.
Từ nhà xưởng, kho bảo quản, trưng bày sản phẩm đều được lắp đặt các trang thiết bị phục vụ việc theo dõi, chăm sóc cho cây chè, sản phẩm chè. Cty sử dụng công nghệ điện toán đám mây vào hệ thống tưới tiêu tự động, sử dụng chip điện tử để theo dõi hướng gió, độ ẩm, dinh dưỡng và dự báo thời tiết. Ngoài việc sử dụng phân đã được ủ kỹ, một số loại loại chế phẩm sinh học an toàn để kích thích khả năng hấp thụ của cây được sử dụng như IMZ, BIO FIM…

Thành công

Ngay lập tức, mỗi kg chè xanh hữu cơ NTEA Thái Nguyên đã được bán với giá từ 500 ngàn đồng đến 1,5 triệu đồng/kg. Vấn đề không phải là những sản phẩm chè nói trên đều do phía Cty xuất khẩu mà chính nhiều bạn hàng, người sử dụng trong nước cũng tìm mua.
Ông Tuấn cho rằng, chiến lược đầu tư của Cty đã đúng. Vì, sản xuất hữu cơ đã tạo ra sản phẩm mà mọi người trong xã hội đều mong muốn tìm mua sử dụng. Rõ ràng, lúc này thương hiệu đã được khẳng định lại trên cơ sở xác lập sự an toàn cho sản phẩm chứ không phải là sản phẩm từ vùng nào, miền nào nữa.
Từ chỗ đạt tiêu chuẩn sản phẩm chè hữu cơ, các điều kiện về tự nhiên, nguồn đất, nguồn nước, sản phẩm sơ chế của công ty tiếp tục phải trải qua hàng loạt những kiểm nghiệm nghiêm ngặt và phân tích một cách khoa học theo các tiêu chuẩn quốc tế. Với việc đầu tư nghiêm túc, bài bản, Cty NTEA Việt Nam là đơn vị đầu tiên trong Hiệp hội Chè Việt Nam được tổ chức chứng nhận quốc tế Biocer International trao chứng nhận sản phẩm trà đạt tiêu chuẩn hữu cơ nông nghiệp IFOAM.
Nối tiếp thành công, Chi nhánh Cty NTEA Việt Nam tại Thái Nguyên tiếp tục xây dựng bộ sản phẩm sản phẩm được ưa chuộng như: Trà Thái Nguyên túi lọc, bột trà xanh Matcha, trà sữa; áp dụng sản phẩm chè sạch để làm nguyên liệu cho hóa mỹ phẩm, hàng tiêu dùng... Sản phẩm của Cty ngoài tiêu thụ trong nước còn hướng tới xuất khẩu sang các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Đức…
Việc đạt được chứng nhận hữu cơ quốc tế cho sản phẩm chè chính là giấy thông hành cho chè Việt xuất ngoại với giá trị và đẳng cấp thế giới. Về chiến lược trong thời gian tiếp theo, ông Nguyễn Kim Tuấn cho biết, chủ động về phương thức sản xuất, Công ty đã nhắm đến một số thị trường tiềm năng, vì vậy, trong thời gian tới, Cty sẽ phải tiếp tục mở rộng sản xuất để có được sản lượng hàng hóa quy mô lớn hơn, đảm bảo nhu cầu tiêu thụ.
Ông Dương Sơn Hà, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Thái Nguyên: Chi nhánh Cty NTEA Việt Nam tại Thái Nguyên không chỉ là doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương mà còn làm thay đổi nhận thức về sản xuất chè, là mô hình điểm, kiểu mẫu, có sức lan tỏa, cần nhân diện để sản xuất nông nghiệp hữu cơ nói chung, sản xuất trà bắc hữu cơ nói riêng của Thái Nguyên phát triển đúng với lộ trình tái cơ cấu nông nghiệp trong thời gian tới.

sản phẩm trà ngon xuất khẩu ước đạt 533 tấn với giá trị khoảng 1 triệu USD

Giá trị xuất khẩu của trà xanh Thái Nguyên như thế nào?

Chè Tân Cương Thái Nguyên (16)
Theo thông tin từ Sở Công Thương, tổng giá trị xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2017 trên địa bàn tỉnh đạt gần 3 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ. Trong đó, giá trị xuất khẩu trà Thái Nguyên khu vực trong nước ước đạt 36,05 triệu USD; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,92 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 98,8% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn.
Theo thông tin từ Sở Công Thương, tổng giá trị xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2017 trên địa bàn tỉnh đạt gần 3 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ. Trong đó, giá trị xuất khẩu khu vực trong nước ước đạt 36,05 triệu USD; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 2,92 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 98,8% tổng giá trị xuất khẩu trên địa bàn.
Mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất là nhóm sản phẩm điện tử viễn thông (điện thoại và linh kiện điện tử) với 2,91 tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ; nhóm kim loại màu và tinh quặng kim loại màu ước đạt 24,3 triệu USD, tăng 51,8%; sản phẩm trà ngon xuất khẩu ước đạt 533 tấn với giá trị khoảng 1 triệu USD, tăng 26,7% về lượng và tăng 28,9% về giá trị. Riêng nhóm hàng may mặc giảm 26% giá trị xuất khẩu so với cùng kỳ (đạt 18,5 triệu USD), nguyên nhân là do đơn hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ giảm, chỉ bằng 64,3% so với cùng kỳ.

tiếp tục mở rộng diện tích trồng trà xanh Thái Nguyên hữu cơ

Hướng đi mới là trồng chè Thái Nguyên với mô hình hữu cơ

Lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp không chỉ khiến cho nông sản mất an toàn, mà còn để lại hậu quả ô nhiễm môi trường do tồn dư hóa chất. Trước thực trạng trên, việc áp dụng nông nghiệp hữu cơ hiện nay đang được coi là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ sức khỏe cho con người và vật nuôi, đồng thời tạo môi trường sống trong lành, bền vững. Mô hình sản xuất trà xanh thái nguyên hữu cơ (chè sạch) ở xã Văn Hán (Đồng Hỷ) là một điển hình.

Chè Tân Cương Thái Nguyên (17)
Gia đình chị Nguyễn Thị Vân ở xóm Phả Lý, xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, có gần 0,7ha trồng chè, trong đó có 0,3ha trồng chè cành và 0,4ha trồng chè trung du. Gia đình chị vẫn chăm sóc cây chè bằng các loại thuốc hóa học có bán sẵn trên thị trường. Mỗi lần phun thuốc xong, cả nhà ai cũng thấy mệt mỏi, khó chịu vì hít phải mùi độc hại. Ngoài ra, đất trồng cũng bị thoái hóa, không được mầu mỡ. Bắt đầu từ tháng 8-2016, Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại xuất nhập khẩu Thái Minh, T.P Thái Nguyên (Công ty Thái Minh) phối hợp với gia đình chị Vân thực hiện việc trồng chè hữu cơ trên toàn bộ diện tích 0,7 ha của gia đình. Mô hình này được triển khai sau khi Công ty đã tiến hành khảo nghiệm tại 4 hộ khác trong xã Văn Hán. Chị Vân cho biết: Thời gian đầu áp dụng trồng chè hữu cơ, tôi thấy khá lúng túng, sản lượng cũng có phần sụt giảm so với trước, nhưng đến lứa chè sau, sản lượng tăng dần, chất lượng được đảm bảo hơn và giá bán cũng cao hơn nhiều. Cụ thể, trong lứa chè đầu tiên, gia đình chị thu được hơn 2 tạ trà ngon búp khô, hiện nay sản lượng đã lên tới gần 2,5 tạ và với hình thức canh tác cũ chỉ bán được 100.000 - 150.000 đồng/kg chè, thì nay giá chè hữu cơ đã được bán với giá 200.000-250.000 đồng/kg. Bên cạnh đó, Công ty Thái Minh còn nhận ký kết bao tiêu toàn bộ sản phẩm. Trước khi xuất bán, sản phẩm của gia đình sẽ được nhân viên kỹ thuật của Công ty và cán bộ phụ trách sản xuất Nông, lâm nghiệp xã Văn Hán kiểm duyệt xác nhận quy trình chăm sóc, chế biến chè theo các điều kiện tiêu chuẩn sản xuất an toàn chè hữu cơ. Với sự chung tay vào cuộc của doanh nghiệp, cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương trong quản lý chất lượng và hướng dẫn quy trình đã tạo động lực thúc đẩy cho mô hình trồng chè sạch của gia đình chị Vân tiếp tục mở rộng diện tích. Chị Vân cho biết sẽ tiếp tục mở rộng diện tích lên thêm trên 1ha ngay trong năm 2017 này.
Từ thành công ban đầu của gia đình chị Vân, tháng 11-2016, xã Văn Hán đã thành lập Tổ hợp tác sản xuất trà bắc sạch chất lượng cao xóm Thái Hưng với 16 thành viên. Ông Nguyễn Trọng Vân, tổ trưởng Tổ hợp tác cho biết: Cả tổ có tổng diện tích gần 2,5ha chè, 100% là chè cành. Mặc dù mới áp dụng hình thức trồng chè hữu cơ được gần một tháng, song các thành viên trong tổ đều nhận thấy việc trồng chè theo hình thức này thực sự an toàn cho con người, tạo môi trường trong sạch và điều quan trọng nhất là sản phẩm chè an toàn tuyệt đối. Anh Nguyễn Văn Tân, thành viên trong Tổ hợp tác cho biết: Gia đình có 0,5ha trồng chè, từ khi áp dụng phương pháp trồng chè hữu cơ, tôi thấy sức khỏe tốt hơn, không khí môi trường trong lành, chất lượng chè đảm bảo và được bao tiêu toàn bộ sản phẩm.
Xã Văn Hán hiện có trên 800ha chè kinh doanh, trong đó có khoảng 500ha chè cành, còn lại là diện tích trồng chè trung du với năng suất đạt 120 tạ/ha, sản lượng gần 2.200 tấn chè búp khô. Ông Vi Ngọc Thi, Chủ tịch UBND xã Văn Hán cho biết: Hiện nay, xã có khoảng 40 hộ trồng chè hữu cơ, thời gian tới, xã sẽ tiếp tục mở rộng diện tích trồng trà xanh Thái Nguyên hữu cơ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư về dịch vụ phân bón và xây dựng cơ sở chế biến chè tại chỗ, xây dựng Văn Hán trở thành vùng nguyên liệu chè an toàn của cả tỉnh.

kỹ thuật trồng, chăm sóc trà ngon

Kế hoạch trồng chè Thái Nguyên tại Định Hóa

Năm nay, huyện Định Hóa có kế hoạch trồng mới, trồng thay thế 220ha chè, trong đó có 60ha chè vụ xuân, 160ha chè vụ thu. Các giống chè đưa vào trồng mới chủ yếu là trà xanh thái nguyên lai (như LDP1, Kim Tuyên, Thúy Ngọc, TRI 777…) đạt năng suất cao, chất lượng tốt, đã được trồng thành công trên địa bàn huyện từ nhiều năm qua.

Chè Tân Cương Thái Nguyên (18)
Hiện nay, bà con nông dân trong huyện đang trồng chè vụ xuân theo đúng khung thời vụ. Các hộ tham gia trồng mới, trồng thay thế diện tích chè vụ xuân được huyện hỗ trợ 80% giá giống (riêng các hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ 100%), với tổng số tiền hỗ trợ là 756 triệu đồng. Ngoài ra, để bảo đảm việc trồng chè vụ xuân đạt kết quả cao, UBND huyện chỉ đạo Phòng Nông nghiệp - PTNT cử cán bộ chuyên môn thường xuyên bám sát cơ sở, đôn đốc nhân dân khẩn trương làm đất, đồng thời hướng dẫn cho bà con về kỹ thuật trồng, chăm sóc trà ngon. Đối với 12 vườn ươm trên địa bàn huyện đã chuẩn bị hơn 1,1 triệu hom chè giống phục vụ việc trồng mới, trồng thay thế diện tích chè theo kế hoạch.

Đối với các doanh nghiệp khi đăng ký sản xuất, kinh doanh chè thì phải xác định được vùng nguyên liệu

Đất chè Thái Nguyên cho người dân nhiều cơ hội vươn lên

Trong hai ngày 10, 11/3, Đoàn công tác của xứ trà xanh thái nguyên do đồng chí Trịnh Việt Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh dẫn đầu đã có chuyến công tác và làm việc tại tỉnh Lai Châu. Tham gia Đoàn có đồng chí Phạm Thái Hanh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; lãnh đạo Sở Khoa học - Công nghệ và Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên. 

Chè Tân Cương Thái Nguyên (19)
Nằm ở vùng Tây Bắc, Lai Châu là một trong những tỉnh miền núi có địa hình phức tạp, gần 80% đồi núi cao, nên điều kiện phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp không thuận lợi, dẫn đến kinh tế - xã hội của tỉnh cũng gặp nhiều khó khăn. Trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay, tỉnh đã chủ động quy hoạch và xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, trong đó chọn cây chè là kinh tế mũi nhọn. Thông qua cơ chế ưu tiên thu hút đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp phát triển công nghiệp trong sản xuất nông nghiệp, tỉnh đã mở rộng diện tích trà ngon từ 1.800ha lên trên 4.000ha, trong đó có trên 3.500ha chè bắt đầu cho kinh doanh.
Tại buổi làm việc với Đoàn công tác của tỉnh Thái Nguyên, đồng chí Lê Trọng Quảng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu đã chia về cơ chế khuyến khích đầu tư phát triển cây chè: như: Quy hoạch vùng nguyên liệu được tiến hành trước, kế đó là hỗ trợ người làm chè tiền công chuyển đổi, cải tạo đất theo định mức từ 40-60 triệu đồng/ha. Đối với các doanh nghiệp khi đăng ký sản xuất, kinh doanh chè thì phải xác định được vùng nguyên liệu, chứng minh được năng lực sản xuất tỉnh mới cấp phép đầu tư. Đồng thời xây dựng cơ chế, quy tắc quản lý chặt chẽ, không cấp phép tràn lan, doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ về kỹ thuật, con giống, phân bón và bảo đảm bao tiêu sản phẩm cho nông dân không ép giá, ép phẩm cấp. Đối với người trồng chè, sau khi được Nhà nước hỗ trợ khuyến khích đầu tư phải cam kết thực hiện đúng quy trình kỹ thuật của doanh nghiệp, bảo đảm tuyệt đối an toàn vệ sinh thực phẩm và khai thác nguyên liệu phục vụ sản xuất cho doanh nghiệp đúng địa chỉ, tiến độ, sản lượng và chất lượng.
doan cong tac cua tinh thai nguyen lam viec voi tinh lai chau ve ung dung khoa hoc cong nghe trong nong nghiep gan voi phat trien du lich
Đoàn công tác của tỉnh Thái Nguyên thăm quan thực tế mô hình trồng chè tại tỉnh Lai Châu
Bằng các chính sách hỗ trợ hợp lý, cơ chế, chính sách quản lý chặt chẽ và sự đồng thuận giữa nhà nông, nhà quản lý, nhà khoa học và nhà đầu tư, đến nay, sản phẩm chè sạch Lai Châu đã có mặt tại các thị trường châu Âu, Nhật, Đài Loan, Pakistan, Ấn Độ…Hiện nay tỉnh Lai Châu đã và đang bán ra thị trường các dòng sản phẩm trà bắc chủ yếu là: Matcha, Ôlong, Shen cha, Đông Phương…, trong đó trên 80% sản lượng được xuất khẩu.
Trong phát triển du lịch, tỉnh Lai Châu đã chọn ra một số sản phẩm du lịch mới, như du lịch khám phá dãy núi Hoàng Liên Sơn, du lịch sinh thái gắn với các vùng chè sạch và du lịch trải nghiệm, khám phá đời sống văn hóa của 20 dân tộc thiểu số tại các huyện vùng biên giới. Năm 2016, toàn tỉnh đã thu hút được gần 200 nghìn lượt khách, tăng gần 10 nghì lượt so với năm 2015, đạt mức doanh thu gần 300 tỷ đồng.
Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên Trịnh Việt Hùng đã vui mừng nhận thấy những nỗ lực bứt phá của tỉnh Lai Châu trong những năm gần đây, đồng thời đề xuất tăng cường hợp tác giữa hai tỉnh, trong đó tăng cường kết nối chia sẻ kinh nghiệm quản lý. Với lợi thế là trung tâm đào tạo của vùng phía Bắc, tỉnh Thái Nguyên sẽ kết nối với tỉnh Lai Châu hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
Nhân dịp này, đoàn công tác của tỉnh Thái Nguyên cũng đã đến thực tế một số mô hình phát triển nông nghiệp của tỉnh Lai Châu.

Nhờ có cây chè, đời sống vật chất và tinh thần của bà con trong xóm ngày càng được nâng cao

Mặc dù cây chè Thái Nguyên đã bén rễ trên đất đồi xóm Nhâu, xã Liên Minh (Võ Nhai)

Từ cuối năm 1945 nhưng phải đến năm 2000 cây trồng này mới được bà con chú trọng chăm sóc. Giờ đây, trà xanh thái nguyên đã trở thành cây trồng mang lại thu nhập khá, góp phần xóa nghèo và vươn lên làm giàu của bà con nơi đây.Có dịp trở lại xóm Nhâu - xóm được UBND tỉnh công nhận là Làng nghề chè truyền thống vào cuối năm 2016, chúng tôi nhận thấy diện mạo xóm nghèo của xã Liên Minh trước kia đang "thay da, đổi thịt" từng ngày. Các tuyến đường đã được đổ bê tông phong quang. Những ngôi nhà mới xây, nhiều hộ đã mua được những tiện nghi sinh hoạt đắt tiền như: xe máy, ti vi, tủ lạnh...

Chè Tân Cương Thái Nguyên (20)
Anh Nguyễn Hữu Xanh, Trưởng xóm, kiêm Trưởng Ban quản lý Làng nghề chè truyền thống xóm Nhâu cho biết: Cách đây chục năm trở về trước, Nhâu là một trong những xóm có tỷ lệ hộ nghèo cao của xã. Đường sá đi lại khó khăn, dù chỉ cách trung tâm xã 3km nhưng nhiều khi bà con không thể đi ra xã vì mưa to, nước suối dâng lên cao gây úng lụt. Thu nhập chính của bà con chủ yếu là cấy lúa, trồng ngô. Những năm gần đây, có nguồn điện lưới quốc gia về tận hộ, đường sá thuận lợi hơn, bà con trong xóm đã tập trung trồng rừng và trồng chè. Hiện tại, xóm có 173 hộ, 728 nhân khẩu thì có tới 165 hộ (trên 300 nhân khẩu) chuyên trồng chè. Nhờ có cây chè, đời sống kinh tế của bà con đã được nâng lên rõ rệt. Nếu như năm 2010, thu nhập bình quân của các hộ dân trồng chè mới đạt khoảng 9 triệu đồng/người/năm thì đến năm 2016, con số đó đã tăng lên 24 triệu đồng/người/năm.
Mặc dù cây trà xanh thái nguyên đã bén rễ trên đất đồi xóm Nhâu từ lâu đời nhưng phải đến năm 2000 bà con trong xóm mới tập trung nhiều vào trồng, chăm sóc, chế biến chè. Đến nay, diện tích chè của xóm đã phát triển lên 50ha (tăng gấp 2 lần so với năm 2000), trong đó có 15ha chè cành với các giống: LDP1, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, năng suất đạt 8 tấn trà ngon búp tươi/ha. Vào chính vụ, chè thường được bán với giá 100 đến 150 nghìn đồng/kg chè búp khô. Vào vụ đông, chè có giá bán từ 120 đến 250 nghìn đồng/kg chè búp khô. Cây chè thực sự đem lại nguồn thu nhập chính cho các hộ dân.
Anh Nguyễn Hữu Tuyến, một hộ dân trồng chè ở xóm Nhâu cho biết: Trước đây, kinh tế gia đình tôi rất khó khăn. Nhưng từ khi tập trung vào trồng thêm và chăm sóc 2 mẫu chè, gia đình tôi đã từng bước vượt qua khó khăn. Hiện, mỗi lứa chè của gia đình cho thu hái trên 1,6 tạ chè búp khô. Sau khi trừ chi phí, gia đình tôi thu lãi trên 50 triệu đồng/năm. Nhận thấy cây chè lai đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, gia đình đang thay thế dần những diện tích chè trung du cằn cỗi bằng các giống chè có năng suất chất lượng như: LDP1, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên. Hiện tại, gia đình tôi đã có 4 sào chè giâm cành. Cùng với đó, gia đình cũng đầu tư mua tôn quay chè, máy vò chè phục vụ chế biến để nâng cao chất lượng sản phẩm chè.
Không chỉ gia đình anh Tuyến, nhiều hộ dân khác ở xóm Nhâu cũng mạnh dạn trồng thay thế diện tích chè trung du cằn cỗi bằng các giống chè cành có năng suất, chất lượng, mua sắm các loại máy móc, thiết bị hiện đại phục vụ chế biến chè như: tôn quay, máy vò chè, máy hút chân không... Đến nay, 100% các hộ dân trồng chè đã đầu tư mua tôn quay, máy vò chè và khoảng chục hộ lắp đặt hệ thống tưới tự động, tiết kiệm nước ở các vườn, đồi chè. Cùng với đó, bà con cũng tập trung đưa các loại phân bón mới vào chăm bón trà bắc. Nhờ vậy, năng suất, chất lượng chè của xóm được nâng lên rõ rệt. Nếu như năm 2010, năng suất cây chè mới đạt 5 tấn chè búp tươi/ha thì đến nay đã tăng lên 8 tấn chè búp tươi/ha...
Nhờ có cây chè, đời sống vật chất và tinh thần của bà con trong xóm ngày càng được nâng cao. Anh Nguyễn Văn Toản, một hộ dân làm chè ở xóm Nhâu cho biết: Gia đình tôi hiện có khoảng 1,2 mẫu chè, trong đó có khoảng 50% diện tích là chè cành, chủ yếu là giống chè cành LDP1. Mỗi năm, gia đình tôi thu hái được 6 lứa chè, mỗi 1,3 tạ chè búp khô, sau khi trừ chi phí, cho thu lãi khoảng 13 triệu đồng. Nhờ có cây chè, gia đình tôi đã sắm được những tiện nghi sinh hoạt cho gia đình như: ti vi, tủ lạnh, máy giặt. Cuối tháng này, gia đình dự kiến khởi công xây dựng lại ngôi nhà cấp mới rộng 4 gian...
Có thể nói, cây chè thực sự trở thành cây trồng mũi nhọn, đem lại nguồn thu nhập khá cho người dân xóm Nhâu. Hiện nay, sản phẩm chè của bà con đã được tư thương ở Đồng Hỷ, T.P Thái Nguyên đã về tận nơi thu mua. Việc công nhận làng nghề chè truyền thống vào cuối năm 2016 là sự ghi nhận, đồng thời là động lực để bà con trong xóm tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng các sản phẩm chè.

Những cây trà xanh thái nguyên có chiều cao hơn chục mét

Không đâu có trà ngon như Trà Thái Nguyên ở Tân Cương

Cùa là vùng đất đỏ bazan gồm 2 xã Cam Nghĩa và Cam Chính, thuộc huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Thế mạnh của vùng đất này là cây cao su, hồ tiêu với diện tích lớn hàng chục ha, mang lại sự đổi thay trong đời sống của người dân. Tuy nhiên, trước đây khi cây công nghiệp chưa phát triển mạnh trên vùng đất này, cây chè Thái Nguyên xanh cũng là cây chủ lực, tạo ra nguồn thu đáng kể cho bà con. Chính vì vậy, nơi đây còn lưu lại nhiều vườn chè xanh rộng gần 1 ha, có nguồn gốc hàng trăm năm.

che thai nguyen
Theo các bậc cao niên, cây chè xuất hiện ở Cùa từ mấy trăm năm trước, đã có một thời gian dài, người dân ở đây trồng chè chủ yếu chỉ để làm thức uống hàng ngày hoặc làm quà biếu họ hàng, người thân mỗi khi về thăm quê. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do nhu cầu sử dụng chè của thị trường ngày một tăng, chè Cùa lại có vị đặc trưng nên các hộ gia đình tiếp tục nhân rộng diện tích. Đặc biệt, chè là loại cây ít bị sâu bệnh, chè có thể sống phân tán dưới bóng cây khác. Lá trà ngon cho nước thơm ngon, đậm đà thường có màu xanh đậm và rất giòn.
nhung vuon che co thu tram tuoi o xu dat do
Từ khi sinh ra, cụ Ký đã thấy cây chè này được cha của cụ trồng.
Cụ Trương Vĩnh Ký (94 tuổi, thôn Trung Chỉ, xã Cam Chính) hiện vẫn còn giữ lại hơn 200 gốc chè trong vườn. Nhờ có vườn chè này mà cụ có thêm nguồn thu nhập để sống lúc về già. Cụ Ký cho biết, vườn chè của cụ đã gắn liền với nhiều thế hệ. Khi cụ Ký được sinh ra thì cây chè đã được cha cụ trồng được hàng chục năm. Cây chè có tuổi thọ lớn hơn cả tuổi cụ.
“Trồng trà xanh thái nguyên không tốn công chăm sóc hay bón phân gì cả. Mình chỉ làm vệ sinh gốc cây hoặc tỉa cành. Khi lá chè xanh tốt thì mới cắt lá đem bán, còn thân thì vẫn tồn tại từ đời này sang đời khác. Những năm trước tôi cũng phá bỏ một số cây để trồng hồ tiêu nhưng cũng thấy tiếc nên để vậy”, ông Ký nói.
Với một số hộ dân khác, dù cây chè không mang lại giá trị kinh tế cao, nhưng do đây là tài sản của thế hệ trước để lại nên họ vẫn quyết tâm giữ nguyên vẹn đến hôm nay. Ông Lê Quang Khai, 77 tuổi, hiện sở hữu khoảng 300 gốc chè xanh có tuổi thọ khoảng 80-100 năm. Ông Khai cho hay: Hầu hết các cây trong vườn là do bố ông trồng lúc còn sống và được ông giữ đến hôm nay.
nhung vuon che co thu tram tuoi o xu dat do
Gốc chè lâu năm phủ rêu phong
nhung vuon che co thu tram tuoi o xu dat do
Cây chè vươn cao tỏa bóng
Những cây trà xanh thái nguyên có chiều cao hơn chục mét, đường kính gốc từ 20-30 cm, với vẻ ngoài sần sùi, rêu rong bám xung quanh đã phần nào nói lên tuổi thọ của cây. Ông Khai cho biết: “Dù có nhiều người hỏi mua cây với giá gần chục triệu đồng nhưng tui không bán. Đến kỳ thu hoạch chỉ bán lá, cành cho các thương lái. Bán hết cả vườn cũng được 15-20 triệu đồng. Cây chè đã tồn tại, gắn bó với mình cả đời người rồi, nay bán đi cũng tiếc lắm. Hơn nữa, vợ chồng tui già cả rồi nên cứ để vậy”.
Anh Nguyễn Ngọc Ký, thôn Mai Lộc cũng sở hữu vườn chè cổ thụ mà anh cho rằng cây có nguồn gốc cách đây gần 200 năm. Anh cho hay, thời gian qua, đã có rất nhiều người tìm đến tận vườn trà ngon hỏi mua với giá gần chục triệu đồng/gốc nhưng anh quyết tâm giữ lại tài sản “cha truyền” của gia đình, để dành cho con cháu đời sau.
nhung vuon che co thu tram tuoi o xu dat do
Theo anh Ký, cây chè này được trồng cách đây gần 200 năm
Hiện nay, vườn chè cổ này là nguồn thu nhập chính cho cả gia đình anh Ký. Trung bình mỗi năm anh thu hoạch được hai vụ chè chính, đó là vào tháng 4 và tháng 9, thu 20-30 triệu đồng.
Trong những năm chiến tranh, vùng Cùa cũng là địa phương hứng chịu nhiều bom đạn, chất độc do quân đội Mỹ rải xuống. Tất cả các loại cây đều bị giết chết, duy chỉ có cây chè vẫn tồn tại, xanh tốt đến ngày nay.
nhung vuon che co thu tram tuoi o xu dat do
Những cây chè cổ thụ có giá tiền triệu được ông Khai chăm sóc bấy lâu nay
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, cán bộ địa chính, nông nghiệp xã Cam Chính cho biết, hiện toàn xã có khoảng 10 hộ còn lưu giữ lại các vườn chè cổ thụ như thế. Những vườn chè này có nguồn gốc hàng trăm năm. Sản phẩm chè xanh của địa phương cũng được nhiều nơi biết đến và lựa chọn vì có vị rất đặc trưng. Khi đến kỳ thu hoạch, các thương lái từ các nơi đến mua tận vườn rồi đi bán ở các chợ. Trung bình mỗi kg chè xanh cũng bán được 6.000-7.000 đồng. Dù giá trị kinh tế của cây trà bắc mang lại không cao so với các cây khác, song nhiều hộ vẫn trân trọng công sức của thế hệ trước để lại và giữ đến ngày nay.
“Cây chè không nằm trong cơ cấu giống cây kinh tế chủ lực của địa phương, nhưng do văn hoá và truyền thống, nên hiện có 30 hộ dân vẫn trồng chè chuyên canh, diện tích từ 1.000-1.500 m2 mỗi hộ”, bà Hạnh nói.